📞 Hotline: 0989919161✉️ Email: [email protected]
Giải đáp pháp luật

Nhặt được tài sản, không trả lại bị xử lý như thế nào?

2 ngày trước, trên đường đi làm về nhà, tôi có làm rơi chiếc ví bên trong có rất nhiều giấy tờ tuỳ thân, giấy đăng ký xe và bằng lái xe ô tô, card visit và khoảng 3 triệu tiền mặt. Sáng nay, có...

2 ngày trước, trên đường đi làm về nhà, tôi có làm rơi chiếc ví bên trong có rất nhiều giấy tờ tuỳ thân, giấy đăng ký xe và bằng lái xe ô tô, card visit và khoảng 3 triệu tiền mặt. Sáng nay, có người đã gọi điện cho tôi nói nhặt được ví đó và đòi thêm 5 triệu thì mới trả lại. Tôi có đề nghị là biếu anh ta toàn bộ số tiền trong ví và xin lại anh ta giấy tờ tùy thân nhưng anh ta không đồng ý. Tôi xin hỏi hành vi của người đó có vi phạm pháp luật không và họ có thể bị xử lý như thế nào?

Trả lời:

Điều 230 Bộ luật dân sự năm 2015 quy định xác lập quyền sở hữu đối với tài sản do người khác đánh rơi như sau:

"Điều 230. Xác lập quyền sở hữu đối với tài sản do người khác đánh rơi, bỏ quên

1. Người phát hiện tài sản do người khác đánh rơi, bỏ quên mà biết được địa chỉ của người đánh rơi hoặc bỏ quên thì phải thông báo hoặc trả lại tài sản cho người đó; nếu không biết địa chỉ của người đánh rơi hoặc bỏ quên thì phải thông báo hoặc giao nộp cho Ủy ban nhân dân cấp xã hoặc công an cấp xã nơi gần nhất để thông báo công khai cho chủ sở hữu biết mà nhận lại.

Ủy ban nhân dân cấp xã hoặc công an cấp xã đã nhận tài sản phải thông báo cho người đã giao nộp về kết quả xác định chủ sở hữu.

2. Sau 01 năm, kể từ ngày thông báo công khai về tài sản do người khác đánh rơi, bỏ quên mà không xác định được chủ sở hữu hoặc chủ sở hữu không đến nhận thì quyền sở hữu đối với tài sản này được xác định như sau:

a) Trường hợp tài sản bị đánh rơi, bỏ quên có giá trị nhỏ hơn hoặc bằng mười lần mức lương cơ sở do Nhà nước quy định thì người nhặt được được xác lập quyền sở hữu đối với tài sản đó theo quy định của Bộ luật này và quy định khác của pháp luật có liên quan; trường hợp tài sản có giá trị lớn hơn mười lần mức lương cơ sở do Nhà nước quy định thì sau khi trừ chi phí bảo quản, người nhặt được được hưởng giá trị bằng mười lần mức lương cơ sở do Nhà nước quy định và 50% giá trị của phần vượt quá mười lần mức lương cơ sở do Nhà nước quy định, phần giá trị còn lại thuộc về Nhà nước;

b) Trường hợp tài sản bị đánh rơi, bị bỏ quên là tài sản thuộc di tích lịch sử - văn hóa theo quy định của Luật di sản văn hóa thì tài sản đó thuộc về Nhà nước; người nhặt được tài sản được hưởng một khoản tiền thưởng theo quy định của pháp luật."

Theo đó, đối với người nhặt được ví tiền phải có trách nhiệm thông báo cho chủ sở hữu, nếu không biết chủ sở hữu là ai thì phải thông báo hoặc giao nộp cho Ủy ban nhân dân xã, phường hoặc công an cơ sở gần nhất để các cơ quan có thẩm quyền tiến hành trả lại tài sản cho người bị đánh mất. Theo như bạn trình bày, có người nhặt được ví của bạn nhưng cố tình không trả lại, còn đòi thêm tiền. Hành vi này là vi phạm pháp luật.

Đối với hành vi không trả lại ví cho bạn sẽ bị xử phạt vi phạm hành chính với mức phạt tiền từ 2.000.000 đồng đến 5.000.000 đồng theo quy định tại điểm e khoản 2 Điều 15 Nghị định số 167/2013/NĐ-CP ngày 12/11/2013 quy định xử phạt vi phạm hành chính trong lĩnh vực an ninh, trật tự, an toàn xã hội; phòng, chống tệ nạn xã hội; phòng cháy và chữa cháy; phòng, chống bạo lực gia đình.

Đối với hành vi đòi thêm tiền để lấy lại tài sản có thể sẽ bị truy cứu trách nhiệm hình sự tội cưỡng đoạt tài sản theo quy định tại Điều 135 Bộ luật hình sự năm 1999 (sửa đổi, bổ sung năm 2009) như sau:

“Điều 135. Tội cưỡng đoạt tài sản

1. Người nào đe doạ sẽ dùng vũ lực hoặc có thủ đoạn khác uy hiếp tinh thần người khác nhằm chiếm đoạt tài sản, thì bị phạt tù từ một năm đến năm năm.

2. Phạm tội thuộc một trong các trường hợp sau đây, thì bị phạt tù từ ba năm đến mười năm:

a) Có tổ chức;

b) Có tính chất chuyên nghiệp;

c) Tái phạm nguy hiểm;

d) Chiếm đoạt tài sản có giá trị từ năm mươi triệu đồng đến dưới hai trăm triệu đồng;

đ) Gây hậu quả nghiêm trọng.

3. Phạm tội thuộc một trong các trường hợp sau đây, thì bị phạt tù từ bảy năm đến mười lăm năm:

a) Chiếm đoạt tài sản có giá trị từ hai trăm triệu đồng đến dưới năm trăm triệu đồng;

b) Gây hậu quả rất nghiêm trọng.

4. Phạm tội thuộc một trong các trường hợp sau đây, thì bị phạt tù từ mười hai năm đến hai mươi năm:

a) Chiếm đoạt tài sản có giá trị từ năm trăm triệu đồng trở lên;

b) Gây hậu quả đặc biệt nghiêm trọng.

5. Người phạm tội còn có thể bị phạt tiền từ mười triệu đồng đến một trăm triệu đồng, tịch thu một phần hoặc toàn bộ tài sản.”

Như vậy, để đảm bảo quyền lợi cho mình, bạn có thể làm đơn trình báo gửi tới Cơ quan công an cấp xã nơi người nhặt được ví của bạn đang cư trú. Nếu bạn không biết nơi người này đang cư trú thì bạn có thể làm đơn gửi tới cơ quan công an cấp xã nơi bạn đang cư trú để yêu cầu giải quyết.

Admin Admin Admin

Xem thêm

Luật Sư Việt Nam

Bình luận