📞 Hotline: 0989919161✉️ Email: [email protected]
Giải đáp pháp luật

Người vay không có khả năng trả nợ, người cho vay với lãi suất cao có bị truy cứu TNHS không?

Tôi có vay của chị C 30.000.000 đồng với lãi suất cao trong lúc gia đình cần tiền để chữa bệnh cho con. Sau 01 tháng vay  tôi có  trả lãi. Tuy nhiên,  vì lãi suất quá cao...

Tôi có vay của chị C 30.000.000 đồng với lãi suất cao trong lúc gia đình cần tiền để chữa bệnh cho con. Sau 01 tháng vay tôi có trả lãi. Tuy nhiên, vì lãi suất quá cao (1.000.000 đồng thì lãi suất 10.000 đồng/ngày), nên tôi không có khả năng trả lãi. Sau 8 tháng, chị C đã viết giấy vay nợ, với số tiền là 100.000.000 đồng số tiền đó là do chị C cộng dồn tiền lãi, nhưng trong giấy nhận nợ, không ghi rõ là tiền lãi bao nhiêu, tiền gốc bao nhiêu, chỉ ghi tổng số tiền, tôi thấy không hợp lý nên không ký và không trả nợ. Xin hỏi, tôi có bị truy cứu trách nhiệm hình sự về tội lừa đảo hay lạm dụng tín nhiệm chiếm đoạt tài sản hay không? Chị C có phạm tội cho vay nặng lãi không?

Trả lời:

Bộ luật hình sự năm 1999 (sửa đổi, bổ sung 2009) có quy định về tội lừa đảo chiếm đoạt tài sản và tội lạm dụng tín nhiệm chiếm đoạt tài sản tại Đều 139 và Điều 140, cụ thể như sau:

- Điều 139 tội lừa đảo chiếm đoạt tài sản: Người nào bằng thủ đoạn gian dối chiếm đoạt tài sản của người khác có giá trị từ hai triệu đồng đến dưới năm mươi triệu đồng hoặc dưới hai triệu đồng nhưng gây hậu quả nghiêm trọng hoặc đã bị xử phạt hành chính về hành vi chiếm đoạt hoặc đã bị kết án về tội chiếm đoạt tài sản, chưa được xoá án tích mà còn vi phạm, thì bị phạt cải tạo không giam giữ đến ba năm hoặc phạt tù từ sáu tháng đến ba năm. Hành vi lừa đảo chiếm đoạt tài sản, tùy theo tính chất, mức độ vi phạm sẽ bị phạt tù từ 2 năm đến 20 năm hoặc tù chung thân.

- Điều 140 tội lạm dụng tín nhiệm chiếm đoạt tài sản: Người nào có một trong những hành vi sau đây chiếm đoạt tài sản của người khác có giá trị từ bốn triệu đồng đến dưới năm mươi triệu đồng hoặc dưới bốn triệu đồng nhưng gây hậu quả nghiêm trọng hoặc đã bị xử phạt hành chính về hành vi chiếm đoạt hoặc đã bị kết án về tội chiếm đoạt tài sản, chưa được xoá án tích mà còn vi phạm, thì bị phạt cải tạo không giam giữ đến ba năm hoặc phạt tù từ ba tháng đến ba năm:

+ Vay, mượn, thuê tài sản của người khác hoặc nhận được tài sản của người khác bằng các hình thức hợp đồng rồi dùng thủ đoạn gian dối hoặc bỏ trốn để chiếm đoạt tài sản đó;

+ Vay, mượn, thuê tài sản của người khác hoặc nhận được tài sản của người khác bằng các hình thức hợp đồng và đã sử dụng tài sản đó vào mục đích bất hợp pháp dẫn đến không có khả năng trả lại tài sản.

Hành vi lạm dụng tín nhiệm chiếm đoạt tài sản, tùy theo tính chất, mức độ vi phạm sẽ bị phạt tù từ 2 năm đến 20 năm hoặc tù chung thân.

Như vậy, nếu bạn không có thủ đoạn gian dối để chiếm đoạt tài sản của chị C thì sẽ không bị truy cứu trách nhiệm hình sự về tội lừa đảo chiếm đoạt tài sản; đồng thời cũng không có thủ đoạn gian dối để chiếm đoạt tài sản của chị C thể hiện bạn đã trả lãi 01 tháng và đã dùng tiền vay để chữa bệnh cho con. Do vậy, bạn cũng không bị truy cứu trách nhiệm hình sự về tội lạm dụng tín nhiệm chiếm đoạt tài sản.

Đối với hành vi cho vay nặng lãi, theo quy định Điều 163, Bộ luật hình sự năm 1999 (sửa đổi, bổ sung 2009) thì người nào cho vay với mức lãi suất cao hơn mức lãi suất cao nhất mà pháp luật quy định từ mười lần trở lên có tính chất chuyên bóc lột, thì bị phạt tiền từ một lần đến mười lần số tiền lãi hoặc phạt cải tạo không giam giữ đến một năm. Phạm tội thu lợi bất chính lớn thì bị phạt tù từ sáu tháng đến ba năm. Người phạm tội còn có thể bị phạt tiền từ một lần đến năm lần số lợi bất chính, cấm đảm nhiệm chức vụ, cấm hành nghề hoặc làm công việc nhất định từ một năm đến năm năm.

Theo quy định tại Điều 468 của Bộ luật dân sự 2015 thì lãi suất vay do các bên thỏa thuận. Trường hợp các bên có thỏa thuận về lãi suất thì lãi suất theo thỏa thuận không được vượt quá 20%/năm của khoản tiền vay, trừ trường hợp luật khác có liên quan quy định khác. Căn cứ tình hình thực tế và theo đề xuất của Chính phủ, Ủy ban thường vụ Quốc hội quyết định điều chỉnh mức lãi suất nói trên và báo cáo Quốc hội tại kỳ họp gần nhất. Trường hợp lãi suất theo thỏa thuận vượt quá lãi suất giới hạn được quy định tại khoản này thì mức lãi suất vượt quá không có hiệu lực. Trường hợp các bên có thỏa thuận về việc trả lãi, nhưng không xác định rõ lãi suất và có tranh chấp về lãi suất thì lãi suất được xác định bằng 50% mức lãi suất giới hạn quy định nêu trên tại thời điểm trả nợ.

Như vậy, căn cứ quy định trên thì việc chị C cho vay với lãi suất 20.000 đồng/ngày/1.000.000 đồng sẽ bị xem xét truy cứu trách nhiệm hình sự về tội cho vay nặng lãi. Vì vậy, bạn và chị C nên thỏa thuận thống nhất lại mức lãi đảm bảo phù hợp với quy định của pháp luật. Sau đó, bạn nên thực hiện nghĩa vụ nợ cho chị C bao gồm trả gốc và lãi cho chị C.

Admin Admin Admin

Xem thêm

Luật Sư Việt Nam

Bình luận