Người được cấp dưỡng được nhận làm con nuôi
Vợ chồng em trai tôi có một con nhỏ. Sau khi ly hôn, cháu ở với mẹ và em trai tôi có nghĩa vụ cấp dưỡng. Em trai tôi đã định cư ở nước ngoài nhưng vẫn gửi tiền cho mẹ cháu để nuôi con. Nay mẹ...
Vợ chồng em trai tôi có một con nhỏ. Sau khi ly hôn, cháu ở với mẹ và em trai tôi có nghĩa vụ cấp dưỡng. Em trai tôi đã định cư ở nước ngoài nhưng vẫn gửi tiền cho mẹ cháu để nuôi con.
Nay mẹ của cháu chuẩn bị kết hôn và cũng sẽ đi định cư ở nước ngoài nên đã cho cháu làm con nuôi người khác.
Xin hỏi, em trai tôi gửi tiền cấp dưỡng để mẹ cháu chuyển cho bố mẹ nuôi cháu theo quyết định của Tòa án trước đó hay có thể gửi trực tiếp cho bố mẹ nuôi cháu?
Trả lời
Theo khoản 24 Điều 3 Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014, “cấp dưỡng là việc một người có nghĩa vụ đóng góp tiền hoặc tài sản khác để đáp ứng nhu cầu thiết yếu của người không sống chung với mình mà có quan hệ hôn nhân, huyết thống hoặc nuôi dưỡng trong trường hợp người đó là người chưa thành niên, người đã thành niên mà không có khả năng lao động và không có tài sản để tự nuôi mình hoặc người gặp khó khăn, túng thiếu theo quy định của Luật này”.
Điều 107 của Luật này quy định về nghĩa vụ cấp dưỡng như sau:
“1. Nghĩa vụ cấp dưỡng được thực hiện giữa cha, mẹ và con; giữa anh, chị, em với nhau; giữa ông bà nội, ông bà ngoại và cháu; giữa cô, dì, chú, cậu, bác ruột và cháu ruột; giữa vợ và chồng theo quy định của Luật này.
Nghĩa vụ cấp dưỡng không thể thay thế bằng nghĩa vụ khác và không thể chuyển giao cho người khác.
2. Trong trường hợp người có nghĩa vụ nuôi dưỡng trốn tránh nghĩa vụ thì theo yêu cầu của cá nhân, cơ quan, tổ chức được quy định tại Điều 119 của Luật này, Tòa án buộc người đó phải thực hiện nghĩa vụ cấp dưỡng theo quy định của Luật này”.
Mức cấp dưỡng do người có nghĩa vụ cấp dưỡng và người được cấp dưỡng hoặc người giám hộ của người đó thỏa thuận căn cứ vào thu nhập, khả năng thực tế của người có nghĩa vụ cấp dưỡng và nhu cầu thiết yếu của người được cấp dưỡng; nếu không thỏa thuận được thì yêu cầu Tòa án giải quyết. Khi có lý do chính đáng, mức cấp dưỡng có thể thay đổi. Việc thay đổi mức cấp dưỡng do các bên thỏa thuận; nếu không thỏa thuận được thì yêu cầu Tòa án giải quyết.
Phương thức cấp dưỡng được quy định tại Điều 117 của Luật này. Đó là:
“Việc cấp dưỡng có thể được thực hiện định kỳ hàng tháng, hàng quý, nửa năm, hàng năm hoặc một lần.
Các bên có thể thỏa thuận thay đổi phương thức cấp dưỡng, tạm ngừng cấp dưỡng trong trường hợp người có nghĩa vụ cấp dưỡng lâm vào tình trạng khó khăn về kinh tế mà không có khả năng thực hiện nghĩa vụ cấp dưỡng; nếu không thỏa thuận được thì yêu cầu Tòa án giải quyết”.
Căn cứ quy định nêu trên, việc bố của cháu gửi tiền nuôi con là thực hiện nghĩa vụ cấp dưỡng của cha cho con. Sự thay đổi phương thức cấp dưỡng chỉ áp dụng đối với trường hợp nêu trên.
Theo Điều 118 của Luật này, nghĩa vụ cấp dưỡng chấm dứt trong các trường hợp sau đây:
“1. Người được cấp dưỡng đã thành niên và có khả năng lao động hoặc có tài sản để tự nuôi mình;
2. Người được cấp dưỡng được nhận làm con nuôi;
3. Người cấp dưỡng đã trực tiếp nuôi dưỡng người được cấp dưỡng;
4. Người cấp dưỡng hoặc người được cấp dưỡng chết;
5. Bên được cấp dưỡng sau khi ly hôn đã kết hôn;
6. Trường hợp khác theo quy định của luật”.
Thông tin của bạn cho thấy cháu đã được người khác nhận làm con nuôi. Có nghĩa là, về nguyên tắc nghĩa vụ cấp dưỡng của bố cháu chấm dứt. Tuy nhiên, bố của cháu có thể không bắt buộc phải cấp dưỡng cho cháu, nhưng vẫn phải thực hiện nghĩa vụ, đồng thời cũng là quyền của cha mẹ đối với con theo Điều 69 của Luật này. Cụ thể:
“1. Thương yêu con, tôn trọng ý kiến của con; chăm lo việc học tập, giáo dục để con phát triển lành mạnh về thể chất, trí tuệ, đạo đức, trở thành người con hiếu thảo của gia đình, công dân có ích cho xã hội.
2. Trông nom, nuôi dưỡng, chăm sóc, bảo vệ quyền, lợi ích hợp pháp của con chưa thành niên, con đã thành niên mất năng lực hành vi dân sự hoặc không có khả năng lao động và không có tài sản để tự nuôi mình.
3. Giám hộ hoặc đại diện theo quy định của Bộ luật dân sự cho con chưa thành niên, con đã thành niên mất năng lực hành vi dân sự.
4. Không được phân biệt đối xử với con trên cơ sở giới hoặc theo tình trạng hôn nhân của cha mẹ; không được lạm dụng sức lao động của con chưa thành niên, con đã thành niên mất năng lực hành vi dân sự hoặc không có khả năng lao động; không được xúi giục, ép buộc con làm việc trái pháp luật, trái đạo đức xã hội”.
Ngoài quy định của pháp luật, quan hệ gia đình dựa trên yếu tố tình cảm giữa các thành viên, chính vì vậy, bố của cháu có quyền gửi tiền để bố mẹ nuôi chăm sóc cho cháu.
Cũng cần lưu ý, theo khoản 1 Điều 21 Luật Nuôi con nuôi năm 2010, “việc nhận nuôi con nuôi phải được sự đồng ý của cha mẹ đẻ của người được nhận làm con nuôi; nếu cha đẻ hoặc mẹ đẻ đã chết, mất tích, mất năng lực hành vi dân sự hoặc không xác định được thì phải được sự đồng ý của người còn lại; nếu cả cha mẹ đẻ đều đã chết, mất tích, mất năng lực hành vi dân sự hoặc không xác định được thì phải được sự đồng ý của người giám hộ; trường hợp nhận trẻ em từ đủ 09 tuổi trở lên làm con nuôi thì còn phải được sự đồng ý của trẻ em đó”. Có nghĩa là, khi để cháu làm con nuôi của người khác, ngoài mẹ cháu còn cần có sự đồng ý của bố của cháu. Sự đồng ý phải hoàn toàn tự nguyện, trung thực, không bị ép buộc, không bị đe dọa hay mua chuộc, không vụ lợi, không kèm theo yêu cầu trả tiền hoặc lợi ích vật chất khác.
Trong quá trình thực hiện thủ tục nhận nuôi con nuôi, công chức tư pháp - hộ tịch phải nghiên cứu, tìm hiểu tâm tư, nguyện vọng và hoàn cảnh của những người liên quan. Trường hợp người được nhận làm con nuôi có cha mẹ đẻ, thì công chức tư pháp - hộ tịch kiểm tra việc cha mẹ đẻ có thỏa thuận với cha mẹ nuôi để giữ lại quyền, nghĩa vụ đối với con và cách thức thực hiện quyền, nghĩa vụ đó sau khi đã cho làm con nuôi.
Thêm nữa, theo quy định tại khoản 2 Điều 9 nghị định số 19/2011/NĐ-CP ngày 21/3/2011 của Chính phủ, “công chức tư pháp - hộ tịch phải tư vấn để trẻ em tiếp tục được chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục phù hợp với điều kiện và khả năng thực tế của gia đình. Trường hợp cho trẻ em làm con nuôi là giải pháp cuối cùng vì lợi ích tốt nhất của trẻ em, thì công chức tư pháp - hộ tịch phải tư vấn đầy đủ cho những người liên quan về mục đích nuôi con nuôi; quyền và nghĩa vụ phát sinh giữa cha mẹ nuôi và con nuôi sau khi đăng ký nuôi con nuôi; về việc cha mẹ đẻ sẽ không còn các quyền, nghĩa vụ đối với con theo quy định tại khoản 4 Điều 24 của Luật Nuôi con nuôi, nếu cha mẹ đẻ và cha mẹ nuôi không có thỏa thuận khác”.
Admin Admin Admin