Người nhận có thể đăng ký khai sinh cho con nuôi theo họ cha nuôi ?
Vợ chồng tôi muốn làm thủ tục đăng ký nhận cháu trai là con thứ 3 của vợ chồng chị gái tôi vừa mới sinh được 1 tháng tuổi làm con nuôi (chị tôi sinh được 3 cháu trai).
Do hoàn cảnh kinh tế gia đình khó khăn, nên vợ chồng chị đồng ý cho vợ chồng tôi nhận làm con nuôi. Hiện tại cháu tôi vẫn chưa được đăng ký khai sinh. Xin hỏi vợ chồng tôi muốn đăng ký khai sinh cho cháu bé theo họ cha nuôi, phần khai về cha mẹ là thông tin của vợ chồng tôi là người nhận nuôi có được không? Vợ chồng anh chị tôi cũng đồng ý như vậy.
Trả lời:
Khoản 1, 4 Điều 30 Bộ luật Dân sự năm 2015 quy định về quyền được khai sinh như sau:
“Điều 30. Quyền được khai sinh, khai tử
1. Cá nhân từ khi sinh ra có quyền được khai sinh.
………………..
4. Việc khai sinh, khai tử do pháp luật về hộ tịch quy định.”
Mặt khác tại Điều 14 và khoản 1 Điều 15 Luật Hộ tịch quy định về nội dung đăng ký khai sinh và trách nhiệm đăng ký khai sinh như sau:
“Điều 14. Nội dung đăng ký khai sinh
1. Nội dung đăng ký khai sinh gồm:
a) Thông tin của người được đăng ký khai sinh: Họ, chữ đệm và tên; giới tính; ngày, tháng, năm sinh; nơi sinh; quê quán; dân tộc; quốc tịch;
b) Thông tin của cha, mẹ người được đăng ký khai sinh: Họ, chữ đệm và tên; năm sinh; dân tộc; quốc tịch; nơi cư trú;
c) Số định danh cá nhân của người được đăng ký khai sinh.
2. Việc xác định quốc tịch, dân tộc, họ của người được khai sinh được thực hiện theo quy định của pháp luật về quốc tịch Việt Nam và pháp luật dân sự.
3. Nội dung đăng ký khai sinh quy định tại khoản 1 Điều này là thông tin hộ tịch cơ bản của cá nhân, được ghi vào Sổ hộ tịch, Giấy khai sinh, cập nhật vào Cơ sở dữ liệu hộ tịch điện tử và Cơ sở dữ liệu quốc gia về dân cư. Hồ sơ, giấy tờ của cá nhân liên quan đến thông tin khai sinh phải phù hợp với nội dung đăng ký khai sinh của người đó.
Chính phủ quy định việc cấp số định danh cá nhân cho người được đăng ký khai sinh.”
“Điều 15. Trách nhiệm đăng ký khai sinh
1. Trong thời hạn 60 ngày kể từ ngày sinh con, cha hoặc mẹ có trách nhiệm đăng ký khai sinh cho con; trường hợp cha, mẹ không thể đăng ký khai sinh cho con thì ông hoặc bà hoặc người thân thích khác hoặc cá nhân, tổ chức đang nuôi dưỡng trẻ em có trách nhiệm đăng ký khai sinh cho trẻ em.”
Như vậy, căn cứ các quy định trên thì cha mẹ đẻ của cháu bé phải đi đăng ký khai sinh cho con của mình để bảo đảm quyền được khai sinh của trẻ em. Sau đó, vợ chồng bạn có thể làm thủ tục đăng ký nhận cháu bé làm con nuôi theo diện cô, cậu, dì, chú, bác ruột nhận cháu làm con nuôi.
Về hồ sơ đăng ký nhận nuôi con nuôi được quy định tại Điều 17, Điều 18 Luật Nuôi con nuôi, gồm những giấy tờ sau đây:
- Đối với người nhận con nuôi:
+ Đơn xin nhận con nuôi (theo mẫu);
+ Bản sao Hộ chiếu, Giấy chứng minh nhân dân hoặc giấy tờ có giá trị thay thế;
+ Phiếu lý lịch tư pháp;
+ Văn bản xác nhận tình trạng hôn nhân;
- Đối với trẻ em được nhận làm con nuôi:
+ Giấy khai sinh;
+ Giấy khám sức khoẻ do cơ quan y tế cấp huyện trở lên cấp;
+ Hai ảnh toàn thân, nhìn thẳng chụp không quá 06 tháng;
Về thẩm quyền đăng ký nuôi con nuôi được quy định tại khoản 1 Điều 9 Luật Nuôi con nuôi và tại khoản 1 Điều 2 Nghị định số 19/2011/NĐ-CP ngày 21/3/2011 của Chính phủ quy định chi tiết thi hành một số điều của Luật Nuôi con nuôi (được sửa đổi, bổ sung bởi Nghị định số 24/2019/NĐ – CP ngày 05/3/2019) như sau:
“Điều 9. Thẩm quyền đăng ký nuôi con nuôi
1. Ủy ban nhân dân xã, phường, thị trấn (sau đây gọi chung là Ủy ban nhân dân cấp xã) nơi thường trú của người được giới thiệu làm con nuôi hoặc của người nhận con nuôi đăng ký việc nuôi con nuôi trong nước.”
“Điều 2. Thẩm quyền đăng ký việc nuôi con nuôi
Thẩm quyền đăng ký việc nuôi con nuôi được thực hiện theo quy định tại Điều 9 của Luật Nuôi con nuôi và quy định cụ thể sau đây:
1. Đối với việc nuôi con nuôi trong nước, trường hợp cha dượng hoặc mẹ kế nhận con riêng của vợ hoặc chồng làm con nuôi; cô, cậu, dì, chú, bác ruột nhận cháu làm con nuôi thì Ủy ban nhân dân cấp xã nơi cư trú của người nhận con nuôi hoặc của người được nhận làm con nuôi thực hiện đăng ký việc nuôi con nuôi. Trường hợp trẻ em bị bỏ rơi chưa chuyển vào cơ sở nuôi dưỡng được nhận làm con nuôi, thì Ủy ban nhân dân cấp xã nơi lập biên bản xác nhận tình trạng trẻ em bị bỏ rơi thực hiện đăng ký việc nuôi con nuôi; trường hợp trẻ em ở cơ sở nuôi dưỡng được nhận làm con nuôi, thì Ủy ban nhân dân cấp xã nơi có trụ sở của cơ sở nuôi dưỡng thực hiện đăng ký việc nuôi con nuôi.”
Như vậy, sau khi hoàn thiện hồ sơ, vợ chồng bạn nộp hồ sơ tại Ủy ban nhân dân cấp xã, nơi cư trú của vợ chồng bạn hoặc của người được nhận làm con nuôi. UBND cấp xã nơi tiếp nhận hồ sơ có trách nhiệm kiểm tra hồ sơ, lấy ý kiến của những người có liên quan và đăng ký việc nuôi con nuôi theo quy định tại Điều 19, 20, 21, 22 Luật Nuôi con nuôi.
Thời hạn giải quyết việc nuôi con nuôi là 30 ngày, kể từ ngày Ủy ban nhân dân cấp xã nhận đủ hồ sơ hợp lệ.
Bước tiếp theo, sau khi được cấp Giấy chứng nhận nuôi con nuôi, vợ chồng bạn có thể yêu cầu cơ quan đăng ký hộ tịch có thẩm quyền thực hiện việc thay đổi họ của con nuôi sang họ của cha nuôi và thay đổi thông tin về cha, mẹ trong Giấy khai sinh của con nuôi sang cha mẹ nuôi theo quy định tại khoản 5 Điều 1 Nghị định số 24/2019/NĐ – CP ngày 05/3/2019 của Chính phủ sửa đổi, bổ sung một số điều của Nghị định số 19/2011/NĐ-CP ngày 21 tháng 3 năm 2011 của Chính phủ quy định chi tiết thi hành một số điều của Luật nuôi con nuôi cụ thể như sau:
5. Sửa đổi, bổ sung khoản 2 Điều 3 khoản 10 như sau:
2. Căn cứ vào Giấy chứng nhận nuôi con nuôi, theo yêu cầu của cha mẹ nuôi và sự đồng ý của con nuôi từ đủ chín tuổi trở lên, cơ quan đăng ký hộ tịch có thẩm quyền thực hiện việc thay đổi họ, chữ đệm và tên của con nuôi theo quy định của pháp luật dân sự và pháp luật về hộ tịch.
3. Việc bổ sung, thay đổi thông tin về cha, mẹ trong Giấy khai sinh của con nuôi được thực hiện theo quy định của pháp luật về hộ tịch.”
Tuấn Đạt
Nguyễn Sỹ Tuấn