Người chưa thành niên phạm tội chịu trách nhiệm hình sự như thế nào?
Con tôi 16 tuổi 03 tháng lấy xe máy của tôi đi chơi và gây tai nạn 1 người đàn ông đi xe đạp (lỗi thuộc về con tôi ). Ngay sau khi gây tai nạn, do quá sợ hãy cháu đã bỏ trốn không đưa người bị nạn...
Con tôi 16 tuổi 03 tháng lấy xe máy của tôi đi chơi và gây tai nạn 1 người đàn ông đi xe đạp (lỗi thuộc về con tôi ). Ngay sau khi gây tai nạn, do quá sợ hãy cháu đã bỏ trốn không đưa người bị nạn đi cấp cứu. Người đàn ông này sau đó đã được một số người đi đường đưa vào bệnh viện điều trị với mức độ thương tích là 60%. Gia đình tôi đã đến thăm hỏi, chi trả viện phí và bồi thường một số tiền. Còn con tôi bị cơ quan công an khởi tố điều tra. Xin hỏi con tôi mới 16 tuổi 03 tháng thì chịu trách nhiệm hình sự như thế nào?
Trả lời:
Điều 12 Bộ luật hình sự 1999 (sửa đổi, bổ sung năm 2009) quy định về độ tuổi chịu trách nhiệm hình sự như sau:
- Người từ đủ 16 tuổi trở lên phải chịu trách nhiệm hình sự về mọi tội phạm.
- Người từ đủ 14 tuổi trở lên, nhưng chưa đủ 16 tuổi phải chịu trách nhiệm hình sự về tội phạm rất nghiêm trọng do cố ý hoặc tội phạm đặc biệt nghiêm trọng.
Điều 74 Bộ luật hình sự 1999 (sửa đổi, bổ sung năm 2009) quy định đối với người từ đủ 16 tuổi đến dưới 18 tuổi khi phạm tội, nếu điều luật được áp dụng quy định hình phạt tù nếu là tù có thời hạn thì mức hình phạt cao nhất được áp dụng không quá ba phần tư mức phạt tù mà điều luật quy định.
Như vậy, căn cứ quy định trên thì con ông/bà khi phạm tội đã 16 tuổi 03 tháng vì vậy, cháu sẽ phải chịu trách nhiệm hình sự về mọi tội phạm do mình gây ra.
Về trách nhiệm hình sự đối với hành vi gây tai nạn giao thông rồi bỏ trốn: Điều 202 Bộ luật hình sự 1999 (sửa đổi, bổ sung năm 2009) quy định tội vi phạm quy định về điều khiển phương tiện giao thông đường bộ như sau:
"Điều 202. Tội vi phạm quy định về điều khiển phương tiện giao thông đường bộ
1. Người nào điều khiển phương tiện giao thông đường bộ mà vi phạm quy định về an toàn giao thông đường bộ gây thiệt hại cho tính mạng hoặc gây thiệt hại nghiêm trọng cho sức khoẻ, tài sản của người khác, thì bị phạt tiền từ năm triệu đồng đến năm mươi triệu đồng, cải tạo không giam giữ đến ba năm hoặc phạt tù từ sáu tháng đến năm năm.
2. Phạm tội thuộc một trong các trường hợp sau đây, thì bị phạt tù từ ba năm đến mười năm:
a) Không có giấy phép hoặc bằng lái xe theo quy định;
b) Trong tình trạng có sử dụng rượu, bia mà trong máu hoặc hơi thở có nồng độ cồn vượt quá mức quy định hoặc có sử dụng các chất kích thích mạnh khác mà pháp luật cấm sử dụng;
c) Gây tai nạn rồi bỏ chạy để trốn tránh trách nhiệm hoặc cố ý không cứu giúp người bị nạn;
d) Không chấp hành hiệu lệnh của người đang làm nhiệm vụ điều khiển hoặc hướng dẫn giao thông;
đ) Gây hậu quả rất nghiêm trọng.
3. Phạm tội gây hậu quả đặc biệt nghiêm trọng thì bị phạt tù từ bảy năm đến mười lăm năm.
4. Vi phạm quy định về an toàn giao thông đường bộ mà có khả năng thực tế dẫn đến hậu quả đặc biệt nghiêm trọng nếu không được ngăn chặn kịp thời, thì bị phạt cải tạo không giam giữ đến một năm hoặc phạt tù từ ba tháng đến hai năm.
5. Người phạm tội còn có thể bị cấm đảm nhiệm chức vụ, cấm hành nghề hoặc làm công việc nhất định từ một năm đến năm năm".
Tại điểm 4.1 Phần I Nghị quyết 02/2003/NQ-HĐTP hướng dẫn về các tình tiết "gây thiệt hại nghiêm trọng", "gây hậu quả rất nghiêm trọng", "gây hậu quả đặc biệt nghiêm trọng" quy định tại Điều 202 Bộ luật Hình sự 1999 (sửa đổi, bổ sung 2009) như sau:
“4.1. Người điều khiển phương tiện giao thông đường bộ mà vi phạm quy định về an toàn giao thông đường bộ nếu chỉ căn cứ vào thiệt hại xảy ra, thì gây thiệt hại cho tính mạng hoặc gây thiệt hại nghiêm trọng cho sức khoẻ, tài sản của người khác thuộc một trong các trường hợp sau đây phải chịu trách nhiệm hình sự theo khoản 1 Điều 202 Bộ luật Hình sự:
a) Làm chết một người;
b) Gây tổn hại cho sức khoẻ của một đến hai người với tỷ lệ thương tật của mỗi người từ 31% trở lên;
c) Gây tổn hại cho sức khoẻ của nhiều người với tỷ lệ thương tật của mỗi người dưới 31%, nhưng tổng tỷ lệ thương tật của tất cả những người này từ 41% đến 100%;
d) Gây tổn hại cho sức khoẻ của một người với tỷ lệ thương tật từ 21% đến 30% và còn gây thiệt hại về tài sản có giá trị từ ba mươi triệu đồng đến dưới năm mươi triệu đồng;
đ) Gây tổn hại cho sức khoẻ của nhiều người, với tỷ lệ thương tật của mỗi người dưới 21%, nhưng tổng tỷ lệ thương tật của tất cả những người này từ 30% đến 40% và còn gây thiệt hại về tài sản có giá trị từ ba mươi triệu đồng đến dưới năm mươi triệu đồng;
e Gây thiệt hại về tài sản có giá trị từ năm mươi triệu đồng đến dưới năm trăm triệu đồng.”
Như vậy, theo hướng dẫn trên thì việc con của ông/bà gây tai nạn giao thông làm người đàn ông đi xe đạp bị thương với mức độ thương tích là 60% sẽ phải chịu trách nhiệm hình sự theo quy định tại khoản 1 Điều 202 Bộ luật hình sự 1999 (sửa đổi, bổ sung 2009). Tuy nhiên, vì con ông/bà gây tai nạn giao thông rồi bỏ trốn không đưa người bị nạn đi cấp cứu nên sẽ bị truy cứu trách nhiệm hình sự theo điểm c khoản 2 Điều 202 Bộ luật hình sự 1999 (sửa đổi, bổ sung 2009) nêu trên với mức hình phạt được áp dụng là phạt tù từ ba năm đến mười năm. Áp dụng quy định tại Điều 74 Bộ luật hình sự 1999 (sửa đổi, bổ sung năm 2009) quy định đối với người từ đủ 16 tuổi đến dưới 18 tuổi khi phạm tội nêu trên thì mức hình phạt cao nhất được áp dụng đối với con ông/bà không quá ba phần tư mức phạt tù quy định tại khoản 2 Điều 202 Bộ luật hình sự 1999 (sửa đổi, bổ sung 2009).
Admin Admin Admin