📞 Hotline: 0989919161✉️ Email: [email protected]
Giải đáp pháp luật

Người chưa thành niên điều khiển xe ô tô vượt đèn đỏ và không mang đăng ký xe bị xử phạt như thế nào?

Vợ chồng chị Liên mới mua xe ô tô. Hôm qua, vợ chồng chị đi vắng, cháu Quang (17 tuổi) con trai của vợ chồng chị đã tự ý điều khiển xe ra đường. Trong lúc tham gia giao thông trên đường phố, cháu...

Vợ chồng chị Liên muốn hỏi: Trường hợp người điều khiển xe ô tô vượt đèn đỏ không mang đăng ký xe và không có bằng lái sẽ bị xử phạt như thế nào?

Trả lời:

* Mức phạt khi điều khiển xe ô tô vượt đèn đỏ

- Theo Điểm a khoản 5 Điều 5 Nghị định số 100/2019/NĐ-CP ngày 30/12/2019 của Chính phủ quy định về xử phạt vi phạm hành chính trong lĩnh vực giao thông đường bộ và Điểm đ Khoản 34 Điều 2 Nghị định 123/2021/NĐ-CP ngày 28/12/2021 của Chính phủ sửa đổi các Nghị định quy định xử phạt vi phạm hành chính trong lĩnh vực hàng hải; giao thông đường bộ, đường sắt; hàng không dân dụng quy định xử phạt người điều khiển, người được chở trên xe ô tô và các loại xe tương tự xe ô tô vi phạm quy tắc giao thông đường bộ:“Phạt tiền từ 4.000.000 đồng đến 6.000.000 đồng đối với người điều khiển xe thực hiện hành vi vi phạm không chấp hành hiệu lệnh của đèn tín hiệu giao thông”.

- Theo quy định tại Khoản 3 Điều 134 Luật Xử lý vi phạm hành chính 2012 quy định “Trường hợp người từ đủ 16 tuổi đến dưới 18 tuổi vi phạm hành chính bị phạt tiền thì mức tiền phạt không quá 1/2 mức tiền phạt áp dụng đối với người thành niên; Trường hợp không có tiền nộp phạt hoặc không có khả năng thực hiện biện pháp khắc, phục hậu quả thì cha mẹ hoặc người giám hộ phải thực hiện thay;”.

Như vậy, theo quy định thì phạt tiền từ 4.000.000 đồng đến 6.000.000 đồng đối với người điều khiển xe thực hiện hành vi vi phạm không chấp hành hiệu lệnh của đèn tín hiệu giao thông; Trường hợp con trai vợ chồng chị Liên điều khiển xe ô tô trong không chấp hành hiệu lệnh của đèn tín hiệu giao thông sẽ bị phạt tiền từ 2.000.000 đồng đến 3.000.000 đồng.

* Xử phạt đối với lỗi điều khiển xe khi không mang theo đăng ký xe

Căn cứ theo quy định tại điểm b khoản 3 Điều 21 Nghị định số 100/2019/NĐ-CP ngày 30/12/2019 của Chính phủ quy định về xử phạt vi phạm hành chính trong lĩnh vực giao thông đường bộ và Khoản 11 Điều 2 Nghị định số Nghị định 123/2021/NĐ-CP quy định xử phạt các hành vi vi phạm quy định về điều kiện của người điều khiển xe cơ giới như sau: “Phạt tiền từ 200.000 đồng đến 400.000 đồng đối với người điều khiển xe ô tô; máy kéo và các loại xe tương tự xe ô tô không mang theo Giấy đăng ký xe”.

Theo quy định tại Khoản 3 Điều 134 Luật Xử lý vi phạm hành chính 2012 quy định “Trường hợp người từ đủ 16 tuổi đến dưới 18 tuổi vi phạm hành chính bị phạt tiền thì mức tiền phạt không quá 1/2 mức tiền phạt áp dụng đối với người thành niên; Trường hợp không có tiền nộp phạt hoặc không có khả năng thực hiện biện pháp khắc, phục hậu quả thì cha mẹ hoặc người giám hộ phải thực hiện thay;”.

Như vậy theo quy định trên thì phạt tiền từ 200.000 đồng đến 400.000 đồng đối với người điều khiển xe ô tô; trường hợp con trai vợ chồng chị Liên điều khiển xe ô tô mà không mang theo giấy đăng ký xe thì bị phạt từ 100.000 đồng đến 200.000 đồng.

* Xử phạt đối với người từ đủ 16 tuổi đến dưới 18 tuổi điều khiển xe ô tô

Căn cứ theo quy định tại khoản 6 Điều 21 Nghị định số 100/2019/NĐ-CP ngày 30/12/2019 của Chính phủ quy định về xử phạt vi phạm hành chính trong lĩnh vực giao thông đường bộ và Khoản 11 Điều 2 Nghị định số Nghị định 123/2021/NĐ-CP quy định xử phạt các hành vi vi phạm quy định về điều kiện của người điều khiển xe cơ giới như sau: “6. Phạt tiền từ 2.000.000 đồng đến 4.000.000 đồng đối với người từ đủ 16 tuổi đến dưới 18 tuổi điều khiển xe ô tô, máy kéo, các loại xe tương tự xe ô tô”.

Theo quy định tại Khoản 3 Điều 134 Luật Xử lý vi phạm hành chính 2012 quy định “Trường hợp người từ đủ 16 tuổi đến dưới 18 tuổi vi phạm hành chính bị phạt tiền thì mức tiền phạt không quá 1/2 mức tiền phạt áp dụng đối với người thành niên; Trường hợp không có tiền nộp phạt hoặc không có khả năng thực hiện biện pháp khắc, phục hậu quả thì cha mẹ hoặc người giám hộ phải thực hiện thay;”.

Như vậy theo quy định trên thì phạt tiền từ 2.000.000 đồng đến 4.000.000 đồng đối với người điều khiển xe ô tô; trường hợp con trai vợ chồng chị Liên điều khiển xe ô tô mà không mang theo giấy đăng ký xe thì bị phạt từ 1.000.000 đồng đến 2.000.000 đồng.

Bên cạnh đó, theo quy định tại điểm i Khoản 1 Điều 82 Nghị định 100/2019/NĐ-CP quy định tạm giữ phương tiện, giấy tờ có liên quan đến người điều khiển và phương tiện vi phạm Để ngăn chặn ngay vi phạm hành chính, người có thẩm quyền xử phạt được phép tạm giữ phương tiện tối đa đến 07 ngày trước khi ra quyết định xử phạt đối với những hành vi vi phạm nêu trên và phải tuân thủ theo quy định tại khoản 2 Điều 125 của Luật Xử lý vi phạm hành chính: Khoản 1; điểm a, điểm c khoản 4; khoản 5; khoản 6; khoản 7; khoản 8 Điều 21”. Như vậy, trường hợp con trai vợ chồng chị Liên điều khiển xe khi chưa có Giấy phép lái xe thì ngoài việc phạt tiền thì còn bị tạm giữ phương tiện 07 ngày.

* Xử phạt chủ phương tiện

Căn cứ điểm h khoản 8 Điều 30 Nghị định 100/2019/NĐ-CP quy định Phạt tiền từ 4.000.000 đồng đến 6.000.000 đồng đối với cá nhân, từ 8.000.000 đồng đến 12.000.000 đồng đối với tổ chức là chủ xe ô tô, máy kéo, xe máy chuyên dùng và các loại xe tương tự xe ô tô thực hiện một trong các hành vi vi phạm sau đây:

h) Giao xe hoặc để cho người không đủ điều kiện theo quy định tại khoản 1 Điều 58 (đối với xe ô tô, máy kéo và các loại xe tương tự xe ô tô), khoản 1 Điều 62 (đối với xe máy chuyên dùng) của Luật Giao thông đường bộ điều khiển xe tham gia giao thông (bao gồm cả trường hợp người điều khiển phương tiện có Giấy phép lái xe, chứng chỉ bồi dưỡng kiến thức pháp luật về giao thông đường bộ nhưng đã hết hạn sử dụng hoặc đang trong thời gian bị tước quyền sử dụng)”. Theo đó, trong trường hợp này, vợ chồng chị Liên đã để con trai điều khiển xe ô tô khi chưa có giấy phép lái xe bị xử phạt từ 4.000.000 đồng đến 6.000.000 đồng.

Như vậy, đối với trường hợp người điều khiển xe ô tô vượt đèn đỏ và không có Giấy phép lái xe sẽ có mức xử phạt cụ thể như đã nêu ở trên.

Như Quỳnh

Đỗ Như Quỳnh

Luật Sư Việt Nam

Bình luận