📞 Hotline: 0989919161✉️ Email: [email protected]
Giải đáp pháp luật

Người đang có vợ chung sống như vợ chồng với người khác bị xử lý như thế nào?

Vợ chồng tôi ly hôn từ giữa năm 2021. Theo đó, tôi nuôi con gái lớn, còn cô ấy nuôi con trai 3 tuổi. Tài sản chung là căn nhà thì tôi để cho cô ấy và con trai tôi sử dụng, còn tôi và con gái chuyển...

Sau khi ly hôn một thời gian, cô ấy đã cặp bồ và đưa một người đàn ông mà cô ấy biết đang có vợ, con về nhà ở cùng đến nay. Hiện cô ấy đã có thai với người đàn ông này. Thời gian vừa qua, vợ của người đàn ông này đã nhiều lần đến nhà đánh ghen ầm ĩ làm cô ấy và người đàn ông này cho rằng là do tôi đứng đằng sau phá đám nên thường xuyên điện thoại chửi bới tôi. Xin hỏi, quan hệ của vợ cũ với người đàn ông kia có vi phạm pháp luật không? Nếu có thì sẽ bị xử lý như thế nào? Tôi muốn tố cáo hành vi trên thì đến cơ quan nào?

Trả lời:

Theo khoản 1 Điều 36 Hiến pháp năm 2013: “Nam, nữ có quyền kết hôn, ly hôn. Hôn nhân theo nguyên tắc tự nguyện, tiến bộ, một vợ một chồng, vợ chồng bình đẳng, tôn trọng lẫn nhau”.

Điều 5 của Luật Hôn nhân và Gia đình năm 2014 quy định về bảo vệ chế độ hôn nhân và gia đình như sau:

1. Quan hệ hôn nhân và gia đình được xác lập, thực hiện theo quy định của Luật này được tôn trọng và được pháp luật bảo vệ.

2. Cấm các hành vi sau đây:

a) Kết hôn giả tạo, ly hôn giả tạo;

b) Tảo hôn, cưỡng ép kết hôn, lừa dối kết hôn, cản trở kết hôn;

c) Người đang có vợ, có chồng mà kết hôn hoặc chung sống như vợ chồng với người khác hoặc chưa có vợ, chưa có chồng mà kết hôn hoặc chung sống như vợ chồng với người đang có chồng, có vợ;

d) Kết hôn hoặc chung sống như vợ chồng giữa những người cùng dòng máu về trực hệ; giữa những người có họ trong phạm vi ba đời; giữa cha, mẹ nuôi với con nuôi; giữa người đã từng là cha, mẹ nuôi với con nuôi, cha chồng với con dâu, mẹ vợ với con rể, cha dượng với con riêng của vợ, mẹ kế với con riêng của chồng;

đ) Yêu sách của cải trong kết hôn;

e) Cưỡng ép ly hôn, lừa dối ly hôn, cản trở ly hôn;

g) Thực hiện sinh con bằng kỹ thuật hỗ trợ sinh sản vì mục đích thương mại, mang thai hộ vì mục đích thương mại, lựa chọn giới tính thai nhi, sinh sản vô tính;

h) Bạo lực gia đình;

i) Lợi dụng việc thực hiện quyền về hôn nhân và gia đình để mua bán người, bóc lột sức lao động, xâm phạm tình dục hoặc có hành vi khác nhằm mục đích trục lợi.

3. Mọi hành vi vi phạm pháp luật về hôn nhân và gia đình phải được xử lý nghiêm minh, đúng pháp luật.

Cơ quan, tổ chức, cá nhân có quyền yêu cầu Tòa án, cơ quan khác có thẩm quyền áp dụng biện pháp kịp thời ngăn chặn và xử lý người có hành vi vi phạm pháp luật về hôn nhân và gia đình.

4. Danh dự, nhân phẩm, uy tín, bí mật đời tư và các quyền riêng tư khác của các bên được tôn trọng, bảo vệ trong quá trình giải quyết vụ việc về hôn nhân và gia đình.”

Như vậy, hành vi chung sống như vợ chồng giữa vợ cũ của bạn với người đàn ông đang có vợ là vi phạm pháp luật về hôn nhân và gia đình (vi phạm quy định tại điểm c, khoản 2, Điều 5: Người đang có vợ, có chồng mà chung sống như vợ chồng với người khác hoặc chưa có vợ, chưa có chồng mà chung sống như vợ chồng với người đang có chồng, có vợ).

Với hành vi vi phạm này thì người đàn ông và vợ cũ của bạn có thể bị xử phạt theo quy định tại Nghị định số 82/2020/NĐ-CP ngày 15/7/2020 quy định xử phạt vi phạm hành chính trong lĩnh vực bổ trợ tư pháp, hành chính tư pháp, hôn nhân và gia đình, thi hành án dân sự, phá sản doanh nghiệp, hợp tác xã với mức phạt từ 3.000.000 đồng đến 5.000.000 đồng theo quy định tại điểm b, c khoản 1 Điều 59 Nghị định, cụ thể như sau:

“Điều 59. Hành vi vi phạm quy định về kết hôn, ly hôn và vi phạm chế độ hôn nhân một vợ, một chống

1. Phạt tiền từ 3.000.000 đồng đến 5.000.000 đồng đối với một trong các hành vi sau:

….

b) Đang có vợ hoặc đang có chồng mà chung sống như vợ chồng với người khác;

c) Chưa có vợ hoặc chưa có chồng mà chung sống như vợ chồng với người mà mình biết rõ là đang có chồng hoặc đang có vợ;

…”

Hoặc có thể người đàn ông và vợ cũ của bạn còn có thể phải chịu trách nhiệm hình sự về Tội vi phạm chế độ một vợ, một chồng được quy định tại Điều 182 Bộ luật Hình sự năm 2015 như sau:

“1. Người nào đang có vợ, có chồng mà kết hôn hoặc chung sống như vợ chồng với người khác hoặc người chưa có vợ, chưa có chồng mà kết hôn hoặc chung sống như vợ chồng với người mà mình biết rõ là đang có chồng, có vợ thuộc một trong các trường hợp sau đây, thì bị phạt cảnh cáo, phạt cải tạo không giam giữ đến 01 năm hoặc phạt tù từ 03 tháng đến 01 năm:

a) Làm cho quan hệ hôn nhân của một hoặc hai bên dẫn đến ly hôn;

b) Đã bị xử phạt vi phạm hành chính về hành vi này mà còn vi phạm.

2. Phạm tội thuộc một trong các trường hợp sau đây, thì bị phạt tù từ 06 tháng đến 03 năm:

a) Làm cho vợ, chồng hoặc con của một trong hai bên tự sát;

b) Đã có quyết định của Tòa án hủy việc kết hôn hoặc buộc phải chấm dứt việc chung sống như vợ chồng trái với chế độ một vợ, một chồng mà vẫn duy trì quan hệ đó”.

Bạn có thể tố cáo hành vi vi phạm hành chính của người đàn ông và vợ cũ của bạn đến người có thẩm quyền xử phạt vi phạm hành chính là Chủ tịch UBND cấp xã theo quy định tại Điều 83 Nghị định số 82/2020/NĐ-CP ngày 15/7/2020.

Trường hợp hành vi vi phạm của người đàn ông và vợ cũ của bạn có dấu hiệu của Tội vi phạm chế độ một vợ, một chồng nêu trên thì bạn tố giác hành vi phạm tội của những người này đến cơ quan Công an, Viện Kiểm sát theo quy định tại khoản 2, Điều 145 Bộ Luật Tố tụng Hình sự năm 2015:

“2. Cơ quan, tổ chức có trách nhiệm tiếp nhận tố giác, tin báo về tội phạm, kiến nghị khởi tố gồm:

a) Cơ quan điều tra, Viện kiểm sát tiếp nhận tố giác, tin báo về tội phạm, kiến nghị khởi tố;

b) Cơ quan, tổ chức khác tiếp nhận tố giác, tin báo về tội phạm.”

Nguyễn Tuân

Nguyễn Sỹ Tuấn

Xem thêm

Luật Sư Việt Nam

Bình luận