📞 Hotline: 0989919161✉️ Email: [email protected]
Giải đáp pháp luật

Nếu không đăng ký kết hôn thì xác định hành vi bạo lực gia đình như thế nào?

Anh M và chị L quen và yêu nhau khi còn ngồi trên ghế giảng đường Đại học. Sau khi ra trường, anh chị cùng vào làm việc tại Công ty Z tại thành phố X. Hai anh chị đã dọn về sống chung như vợ chồng ...

của anh M được Công ty Z chuyển vào thẻ ATM của anh nên anh đưa luôn thẻ ATM của mình để chị L quản lý. Sau một thời gian thì anh M phát sinh tình cảm với một người phụ nữ khác và bị chị L phát hiện. Do bực tức nên chị L thường xuyên chửi mắng, lăng mạ, chì chiết và còn đập phá làm hư hỏng tivi và của anh M. Chị cũng đập vỡ điện thoại iphone của anh M và kiểm soát toàn bộ thu nhập của anh làm cho anh bị lệ thuộc chị về tài chính. Đề nghị cho biết trường hợp trên có phải là hành vi bạo lực gia đình không?

Trả lời:

- Điểm b khoản 1 Điều 2 Luật Phòng chống bạo lực gia đình năm 2007 quy định: Bạo lực gia đình là hành vi cố ý của thành viên gia đình gây tổn hại hoặc có khả năng gây tổn hại về thể chất, tinh thần, tình dục, kinh tế đối với thành viên khác trong gia đình.

- Điều 3 Luật Phòng chống bạo lực gia đình năm 2007 quy định về hành vi bạo lực gia đình như sau:

“1. Hành vi bạo lực gia đình bao gồm:

a) Hành hạ, ngược đãi, đánh đập, đe dọa hoặc hành vi cố ý khác xâm hại đến sức khỏe, tính mạng;

b) Lăng mạ, chì chiết hoặc hành vi cố ý khác xúc phạm danh dự, nhân phẩm;

c) Cưỡng ép chứng kiến bạo lực đối với người, con vật nhằm gây áp lực thường xuyên về tâm lý;

d) Bỏ mặc, không quan tâm; không nuôi dưỡng, chăm sóc thành viên gia đình là trẻ em, phụ nữ mang thai, phụ nữ đang nuôi con dưới 36 tháng tuổi, người cao tuổi, người khuyết tật, người không có khả năng tự chăm sóc; không giáo dục thành viên gia đình là trẻ em;

đ) Kỳ thị, phân biệt đối xử về hình thể, giới, giới tính, năng lực của thành viên gia đình;

e) Ngăn cản thành viên gia đình gặp gỡ người thân, có quan hệ xã hội hợp pháp, lành mạnh hoặc hành vi khác nhằm cô lập, gây áp lực thường xuyên về tâm lý;

g) Ngăn cản việc thực hiện quyền, nghĩa vụ trong quan hệ gia đình giữa ông, bà và cháu; giữa cha, mẹ và con; giữa vợ và chồng; giữa anh, chị, em với nhau;

h) Tiết lộ hoặc phát tán thông tin về đời sống riêng tư, bí mật cá nhân và bí mật gia đình của thành viên gia đình nhằm xúc phạm danh dự, nhân phẩm;

i) Cưỡng ép thực hiện hành vi quan hệ tình dục trái ý muốn của vợ hoặc chồng;

k) Cưỡng ép trình diễn hành vi khiêu dâm; cưỡng ép nghe âm thanh, xem hình ảnh, đọc nội dung khiêu dâm, kích thích bạo lực;

l) Cưỡng ép tảo hôn, kết hôn, ly hôn hoặc cản trở kết hôn, ly hôn hợp pháp;

m) Cưỡng ép mang thai, phá thai, lựa chọn giới tính thai nhi;

n) Chiếm đoạt, hủy hoại tài sản chung của gia đình hoặc tài sản riêng của thành viên khác trong gia đình;

o) Cưỡng ép thành viên gia đình học tập, lao động quá sức, đóng góp tài chính quá khả năng của họ; kiểm soát tài sản, thu nhập của thành viên gia đình nhằm tạo ra tình trạng lệ thuộc về mặt vật chất, tinh thần hoặc các mặt khác;

p) Cô lập, giam cầm thành viên gia đình;

q) Cưỡng ép thành viên gia đình ra khỏi chỗ ở hợp pháp trái pháp luật.

2. Hành vi quy định tại khoản 1 Điều này được thực hiện giữa người đã ly hôn; người chung sống như vợ chồng; người là cha, mẹ, con riêng, anh, chị, em của người đã ly hôn, của người chung sống như vợ chồng; người đã từng có quan hệ cha mẹ nuôi và con nuôi với nhau cũng được xác định là hành vi bạo lực gia đình theo quy định của Chính phủ.

Tại Khoản 1 Điều 3 Luật phòng, chống bạo lực gia đình năm 2022 quy định các hành vi bạo lực gia đình; trong đó có quy định các hành vi: “lăng mạ hoặc hành vi cố ý khác xâm phạm danh dự, nhân phẩm”; “chiếm đoạt, hủy hoại, đập phá hoặc có hành vi khác cố ý làm hư hỏng tài sản riêng của thành viên khác trong gia đình hoặc tài sản chung của các thành viên gia đình”; “cưỡng ép thành viên gia đình lao động quá sức, đóng góp tài chính quá khả năng của họ; kiểm soát thu nhập của thành viên gia đình nhằm tạo ra tình trạng phụ thuộc về tài chính” là các hành vi trong số những hành vi bạo lực gia đình. Đồng thời, Khoản 2 Điều 2 của Luật này đồng thời quy định: các hành vi bạo lực gia đình nêu trên cũng được áp dụng đối với thành viên gia đình của vợ, chồng đã ly hôn hoặc nam, nữ không đăng ký kết hôn mà chung sống với nhau như vợ chồng. Như vậy, đối chiếu với quy định của Luật phòng, chống bạo lực gia đình năm 2022, xác định hành vi của chị L đối với anh M là hành vi bạo lực gia đình.

Như Quỳnh

Đỗ Như Quỳnh

Luật Sư Việt Nam

Bình luận