Mức khấu trừ tiền lương của người lao động để bồi thường thiệt hại
Do sơ ý khi vận hành một thiết bị máy móc mới, tôi đã làm hỏng và Công ty phải thay thế, sửa chữa có tính phí. Tôi bị Công ty yêu cầu bồi thường thiệt hại, khấu trừ dần 50% tiền lương hàng tháng...
Do sơ ý khi vận hành một thiết bị máy móc mới, tôi đã làm hỏng và Công ty phải thay thế, sửa chữa có tính phí.
Tôi bị Công ty yêu cầu bồi thường thiệt hại, khấu trừ dần 50% tiền lương hàng tháng theo hợp đồng lao động cho đến khi hết trị giá số tiền sửa chữa là đúng hay sai?
Trả lời
Theo khoản 1 Điều 130 Bộ luật Lao động năm 2012, “Người lao động làm hư hỏng dụng cụ, thiết bị hoặc có hành vi khác gây thiệt hại tài sản của người sử dụng lao động thì phải bồi thường theo quy định của pháp luật.
Trường hợp người lao động gây thiệt hại không nghiêm trọng do sơ suất với giá trị không quá 10 tháng lương tối thiểu vùng do Chính phủ công bố được áp dụng tại nơi người lao động làm việc, thì người lao động phải bồi thường nhiều nhất là 03 tháng tiền lương và bị khấu trừ hằng tháng vào lương theo quy định tại khoản 3 Điều 101 của Bộ luật này”.
Như vậy, việc bồi thường thiệt hại được chia thành 2 trường hợp:
Trường hợp thứ nhất: Người lao động làm hư hỏng dụng cụ, thiết bị hoặc có hành vi khác gây thiệt hại tài sản của người sử dụng lao động thì phải bồi thường theo quy định của pháp luật.
Khoản 1 Điều 584 Bộ luật Dân sự năm 2015 quy định: “Người nào có hành vi xâm phạm tính mạng, sức khỏe, danh dự, nhân phẩm, uy tín, tài sản, quyền, lợi ích hợp pháp khác của người khác mà gây thiệt hại thì phải bồi thường, trừ trường hợp Bộ luật này, luật khác có liên quan quy định khác”.
Việc xem xét, quyết định mức bồi thường thiệt hại phải căn cứ vào lỗi, mức độ thiệt hại thực tế và hoàn cảnh thực tế gia đình, nhân thân và tài sản của người lao động. Người lao động không phải chịu trách nhiệm bồi thường thiệt hại trong trường hợp thiệt hại phát sinh là do sự kiện bất khả kháng hoặc hoàn toàn do lỗi của người sử dụng lao động, trừ trường hợp có thỏa thuận khác hoặc luật có quy định khác.
Nguyên tắc bồi thường thiệt hại được quy định tại Điều 585 của Bộ luật này. Cụ thể:
“1. Thiệt hại thực tế phải được bồi thường toàn bộ và kịp thời. Các bên có thể thỏa thuận về mức bồi thường, hình thức bồi thường bằng tiền, bằng hiện vật hoặc thực hiện một công việc, phương thức bồi thường một lần hoặc nhiều lần, trừ trường hợp pháp luật có quy định khác.
2. Người chịu trách nhiệm bồi thường thiệt hại có thể được giảm mức bồi thường nếu không có lỗi hoặc có lỗi vô ý và thiệt hại quá lớn so với khả năng kinh tế của mình.
3. Khi mức bồi thường không còn phù hợp với thực tế thì bên bị thiệt hại hoặc bên gây thiệt hại có quyền yêu cầu Tòa án hoặc cơ quan nhà nước có thẩm quyền khác thay đổi mức bồi thường.
4. Khi bên bị thiệt hại có lỗi trong việc gây thiệt hại thì không được bồi thường phần thiệt hại do lỗi của mình gây ra.
5. Bên có quyền, lợi ích bị xâm phạm không được bồi thường nếu thiệt hại xảy ra do không áp dụng các biện pháp cần thiết, hợp lý để ngăn chặn, hạn chế thiệt hại cho chính mình”.
Thiệt hại do tài sản bị xâm phạm bao gồm: Tài sản bị mất, bị hủy hoại hoặc bị hư hỏng; Lợi ích gắn liền với việc sử dụng, khai thác tài sản bị mất, bị giảm sút; Chi phí hợp lý để ngăn chặn, hạn chế và khắc phục thiệt hại; Thiệt hại khác do luật quy định.
Trường hợp thứ hai: Người lao động gây thiệt hại không nghiêm trọng do sơ suất với giá trị không quá 10 tháng lương tối thiểu vùng do Chính phủ công bố được áp dụng tại nơi người lao động làm việc, thì người lao động phải bồi thường nhiều nhất là 03 tháng tiền lương và bị khấu trừ hằng tháng vào lương theo quy định tại khoản 3 Điều 101 của Bộ luật này. Điều kiện áp dụng cho trường hợp bồi thường thiệt hại này là:
+ Người lao động gây thiệt hại không nghiêm trọng do sơ suất;
+ Giá trị thiệt hại không quá 10 tháng lương tối thiểu vùng;
Khi đó, người lao động chỉ phải bồi thường nhiều nhất là 03 tháng tiền lương và bị khấu trừ hằng tháng vào lương.
Theo khoản 3 Điều 101 Bộ luật Lao động năm 2012, “mức khấu trừ tiền lương hằng tháng không được quá 30% tiền lương hằng tháng của người lao động sau khi trích nộp các khoản bảo hiểm xã hội bắt buộc, bảo hiểm y tế, bảo hiểm thất nghiệp, thuế thu nhập”.
Có nghĩa là, nếu thiệt hại bạn gây ra và phải bồi thường thiệt hại trong trường hợp này, Công ty chỉ được yêu cầu bạn bồi thường nhiều nhất là 03 tháng tiền lương. Đồng thời, mức khấu trừ tiền lương hằng tháng không được quá 30% tiền lương hằng tháng của bạn sau khi trích nộp các khoản bảo hiểm xã hội bắt buộc, bảo hiểm y tế, bảo hiểm thất nghiệp, thuế thu nhập (không phải tính trên mức tiền lương tháng được ghi nhận tại Hợp đồng lao động). Việc Công ty khấu trừ tiền 50% tiền lương hằng tháng của bạn là không đúng quy định của pháp luật lao động.
Bên cạnh đó, cũng cần lưu ý, theo khoản 6 Điều 26 Nghị định số 05/2015/NĐ-CP ngày 12/01/2015 của Chính phủ, “Tiền lương làm căn cứ khấu trừ tiền lương của người lao động để bồi thường thiệt hại do làm hư hỏng dụng cụ, thiết bị tại Khoản 1 Điều 130 của Bộ luật Lao động là tiền lương thực tế người lao động nhận được hằng tháng sau khi trích nộp các khoản bảo hiểm xã hội bắt buộc, bảo hiểm y tế, bảo hiểm thất nghiệp và nộp thuế thu nhập cá nhân (nếu có) theo quy định”.
Ngọc Đức
Admin PBGDPL