Mức doanh thu cho thuê nhà không phải nộp thuế VAT và thuế thu nhập cá nhân
Tôi có một căn nhà không sử dụng nên cho người khác thuê, thời hạn hợp đồng 2 năm bắt đầu từ 01/10/2019, với giá 20 triệu đồng/tháng, trả tiền thuê từng tháng. Như vậy, khoản thu nhập này của tôi...
Tôi có một căn nhà không sử dụng nên cho người khác thuê, thời hạn hợp đồng 2 năm bắt đầu từ 01/10/2019, với giá 20 triệu đồng/tháng, trả tiền thuê từng tháng.
Như vậy, khoản thu nhập này của tôi năm 2019 có phải nộp thuế giá trị gia tăng và thuế thu nhập cá nhân hay không? Trả lời Theo khoản 1 Điều 3 Luật thuế thu nhập cá nhân số 04/2007/QH11, được sửa đổi, bổ sung tại khoản 1 Điều 2 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của các luật về thuế số 71/2014/QH13, thu nhập từ kinh doanh, bao gồm: ”a) Thu nhập từ hoạt động sản xuất, kinh doanh hàng hoá, dịch vụ; b) Thu nhập từ hoạt động hành nghề độc lập của cá nhân có giấy phép hoặc chứng chỉ hành nghề theo quy định của pháp luật. Thu nhập từ kinh doanh quy định tại khoản này không bao gồm thu nhập của cá nhân kinh doanh có doanh thu từ 100 triệu đồng/năm trở xuống”. Người nộp thuế là cá nhân cư trú bao gồm cá nhân, nhóm cá nhân và hộ gia đình có hoạt động sản xuất, kinh doanh hàng hóa, dịch vụ thuộc tất cả các lĩnh vực, ngành nghề sản xuất, kinh doanh theo quy định của pháp luật (sau đây gọi là cá nhân kinh doanh). Theo điểm a khoản 1 Điều 4 Thông tư số 92/2015/TT-BTC ngày 15/6/2015 của Bộ trưởng Bộ Tài chính, “cá nhân cho thuê tài sản là cá nhân có phát sinh doanh thu từ cho thuê tài sản bao gồm: cho thuê nhà, mặt bằng, cửa hàng, nhà xưởng, kho bãi không bao gồm dịch vụ lưu trú; cho thuê phương tiện vận tải, máy móc thiết bị không kèm theo người điều khiển; cho thuê tài sản khác không kèm theo dịch vụ. Dịch vụ lưu trú không tính vào hoạt động cho thuê tài sản theo hướng dẫn tại điểm này gồm: cung cấp cơ sở lưu trú ngắn hạn cho khách du lịch, khách vãng lai khác; cung cấp cơ sở lưu trú dài hạn cho sinh viên, công nhân và những đối tượng tương tự; cung cấp cơ sở lưu trú cùng dịch vụ ăn uống và/hoặc các phương tiện giải trí. Dịch vụ lưu trú không bao gồm: cung cấp cơ sở lưu trú dài hạn được coi như cơ sở thường trú như cho thuê căn hộ hàng tháng hoặc hàng năm được phân loại trong ngành bất động sản theo quy định của pháp luật về Hệ thống ngành kinh tế của Việt Nam”. Hoạt động cho thuê nhà như trường hợp của bạn, nếu thuộc đối tượng nộp thuế là nộp thuế theo từng lần phát sinh. Thông tin của bạn cho thấy, tiền thuê được hai bên thỏa thuận trả hàng tháng, hợp đồng mới phát sinh hiệu lực từ tháng 10 năm 2019 đến nay, có nghĩa là, tổng doanh thu từ cho thuê nhà của bạn năm 2019 là 30 triệu đồng. Bạn không phải nộp thuế thu nhập cá nhân và thuế giá trị gia tăng, bởi vì: Điểm b khoản này quy định: “Đối với cá nhân cho thuê tài sản thì mức doanh thu 100 triệu đồng/năm trở xuống để xác định cá nhân không phải nộp thuế giá trị gia tăng và không phải nộp thuế thu nhập cá nhân là tổng doanh thu phát sinh trong năm dương lịch của các hợp đồng cho thuê tài sản. Trường hợp bên thuê trả tiền thuê tài sản trước cho nhiều năm thì khi xác định mức doanh thu từ 100 triệu đồng/năm trở xuống để xác định cá nhân không phải nộp thuế giá trị gia tăng và không phải nộp thuế thu nhập cá nhân là doanh thu trả tiền một lần được phân bổ theo năm dương lịch”. Thêm nữa, theo khoản 25 Điều 2 Thông tư số 219/2013/TT-BTC ngày 31/12/2013 của Bộ trưởng Bộ Tài chính, một trong những đối tượng không chịu thuế giá trị gia tăng là “Hàng hóa, dịch vụ của hộ, cá nhân kinh doanh có mức doanh thu hàng năm từ một trăm triệu đồng trở xuống. Việc xác định hộ, cá nhân kinh doanh thuộc hay không thuộc đối tượng không chịu thuế GTGT thực hiện theo hướng dẫn của pháp luật về quản lý thuế”. Tóm lại, đối với cá nhân kinh doanh nộp thuế theo từng lần phát sinh có tổng mức doanh thu 100 triệu đồng/năm trở xuống tính theo năm dương lịch thì không phải nộp thuế giá trị gia tăng và thuế thu nhập cá nhân. Ngọc Đức
admin admin