📞 Hotline: 0989919161✉️ Email: [email protected]
Giải đáp pháp luật

Mất Giấy chứng nhận kết hôn có được cấp lại?

Năm 1980, vợ chồng tôi đăng ký kết hôn tại UBND xã nơi tôi có hộ khẩu thường trú và được cấp Giấy chứng nhận kết hôn (2 bản)

Do sơ suất khi chúng tôi chuyển nhà đã làm thất lạc Giấy chứng nhận kết hôn. Nay, chúng tôi đang làm thủ tục về giao dịch bất động sản nên cần có Giấy chứng nhận kết hôn. Xin hỏi, chúng tôi muốn xin cấp lại Giấy chứng nhận kết hôn có được không? Hồ sơ, thủ tục như thế nào?

Trả lời:

Về việc anh/chị hỏi, chúng tôi đưa ra 02 trường hợp để anh/chị tham khảo để giải quyết yêu cầu của mình như sau:

* Trường hợp thứ nhất: Ủy ban nhân dân nơi bạn đã đăng ký kết hôn trước đây còn lưu trữ Sổ đăng ký kết hôn. Trong trường hợp này, anh/chị được cấp bản sao trích lục Giấy chứng nhận kết hôn theo quy định tại Điều 63 Luật Hộ tịch, cụ thể:

“Cá nhân không phụ thuộc vào nơi cư trú có quyền yêu cầu Cơ quan quản lý Cơ sở dữ liệu hộ tịch cấp bản sao trích lục hộ tịch về sự kiện hộ tịch của mình đã được đăng ký”.

Thủ tục cấp bản sao trích lục Giấy chứng nhận kết hôn được quy định tại Điều 64 Luật Hộ tịch như sau:

“1. Người yêu cầu cấp bản sao trích lục hộ tịch trực tiếp hoặc thông qua người đại diện gửi tờ khai theo mẫu quy định cho Cơ quan quản lý Cơ sở dữ liệu hộ tịch.
Trường hợp cơ quan, tổ chức có thẩm quyền đề nghị cấp bản sao trích lục hộ tịch của cá nhân thì gửi văn bản yêu cầu nêu rõ lý do cho Cơ quan quản lý Cơ sở dữ liệu hộ tịch.

2. Ngay sau khi nhận được yêu cầu, nếu đủ điều kiện thì Cơ quan quản lý Cơ sở dữ liệu hộ tịch cấp bản sao trích lục hộ tịch cho người yêu cầu”.

* Trường hợp thứ hai: Ủy ban nhân dân nơi anh/chị đã đăng ký kết hôn trước đây không lưu trữ Sổ đăng ký kết hôn. Trong trường hợp này, theo Điều 24 Nghị định số 123/2015/NĐ-CP ngày 15/11/2015 của Chính phủ quy định chi tiết một số điều và biện pháp thi hành Luật Hộ tịch, quy định về điều kiện đăng ký lại khai sinh, kết hôn, khai tử như sau:

“1. Việc khai sinh, kết hôn, khai tử đã được đăng ký tại cơ quan có thẩm quyền của Việt Nam trước ngày 01 tháng 01 năm 2016 nhưng Sổ hộ tịch và bản chính giấy tờ hộ tịch đều bị mất thì được đăng ký lại.

2. Người yêu cầu đăng ký lại khai sinh, kết hôn, khai tử có trách nhiệm nộp đầy đủ bản sao giấy tờ, tài liệu có nội dung liên quan đến việc đăng ký lại.

3. Việc đăng ký lại khai sinh, kết hôn chỉ được thực hiện nếu người yêu cầu đăng ký còn sống vào thời điểm tiếp nhận hồ sơ.

Như vậy, đối chiếu với trường hợp của anh/chị thì anh/chị được đăng ký lại kết hôn và được cấp bản chính Giấy chứng nhận kết hôn.

Thẩm quyền đăng ký lại kết hôn, được quy định tại khoản 1, Điều 25 Nghị định số 123/2015/NĐ-CP, cụ thể như sau:

“1. Ủy ban nhân dân cấp xã, nơi đã đăng ký khai sinh, kết hôn trước đây hoặc Ủy ban nhân dân cấp xã nơi người yêu cầu thường trú, thực hiện đăng ký lại khai sinh, kết hôn”.

Thủ tục đăng ký lại kết hôn, được quy định tại Điều 27 Nghị định số 123/2015/NĐ-CP, cụ thể như sau:

“1. Hồ sơ đăng ký lại kết hôn gồm các giấy tờ sau:

a) Tờ khai theo mẫu quy định;

b) Bản sao Giấy chứng nhận kết hôn được cấp trước đây. Nếu không có bản sao Giấy chứng nhận kết hôn thì nộp bản sao hồ sơ, giấy tờ cá nhân có các thông tin liên quan đến nội dung đăng ký kết hôn.

2. Trong thời hạn 05 ngày làm việc, kể từ ngày tiếp nhận hồ sơ, công chức tư pháp - hộ tịch kiểm tra, xác minh hồ sơ. Nếu thấy hồ sơ đăng ký lại kết hôn là đầy đủ, chính xác, đúng quy định pháp luật thì công chức tư pháp - hộ tịch thực hiện đăng ký lại kết hôn như trình tự quy định tại Khoản 2 Điều 18 của Luật Hộ tịch.

Nếu việc đăng ký lại kết hôn thực hiện tại Ủy ban nhân dân cấp xã không phải là nơi đã đăng ký kết hôn trước đây thì công chức tư pháp - hộ tịch báo cáo Chủ tịch Ủy ban nhân dân có văn bản đề nghị Ủy ban nhân dân nơi đăng ký kết hôn trước đây kiểm tra, xác minh về việc lưu giữ sổ hộ tịch tại địa phương.

Trong thời hạn 05 ngày làm việc, kể từ ngày nhận được văn bản đề nghị, Ủy ban nhân dân nơi đã đăng ký kết hôn trước đây tiến hành kiểm tra, xác minh và trả lời bằng văn bản về việc còn lưu giữ hoặc không lưu giữ được sổ hộ tịch.

3. Trong thời hạn 03 ngày làm việc, kể từ ngày nhận được kết quả xác minh về việc không còn lưu giữ được sổ hộ tịch tại nơi đã đăng ký kết hôn, nếu thấy hồ sơ đầy đủ, chính xác, đúng quy định pháp luật công chức tư pháp - hộ tịch thực hiện việc đăng ký lại kết hôn như quy định tại Khoản 2 Điều này”.

Tuấn Đạt

Nguyễn Sỹ Tuấn

Xem thêm

Luật Sư Việt Nam

Bình luận