📞 Hotline: 0989919161✉️ Email: [email protected]
Giải đáp pháp luật

Mang thai hộ vì mục đích nhân đạo phải thực hiện bằng kỹ thuật hỗ trợ sinh sản

Vợ chồng tôi kết hôn hơn chục năm nhưng chưa có con, dù đã chữa chạy nhiều nơi. Mới đây, chồng tôi thông báo có người chấp nhận sống cùng anh ấy một thời gian, mang thai và đẻ con, sau đó trả lại...

Xin hỏi, việc mang thai hộ vì mục đích thương mại như vậy có được pháp luật công nhận hay không?

Trả lời

Mang thai hộ vì mục đích nhân đạo, theo khoản 22 Điều 3 Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014, “là việc một người phụ nữ tự nguyện, không vì mục đích thương mại giúp mang thai cho cặp vợ chồng mà người vợ không thể mang thai và sinh con ngay cả khi áp dụng kỹ thuật hỗ trợ sinh sản, bằng việc lấy noãn của người vợ và tinh trùng của người chồng để thụ tinh trong ống nghiệm, sau đó cấy vào tử cung của người phụ nữ tự nguyện mang thai để người này mang thai và sinh con”.

Con sinh ra trong trường hợp mang thai hộ vì mục đích nhân đạo là con chung của vợ chồng nhờ mang thai hộ kể từ thời điểm con được sinh ra.

Điều kiện mang thai hộ vì mục đích nhân đạo được quy định tại Điều 95 của Luật này như sau:

“1. Việc mang thai hộ vì mục đích nhân đạo phải được thực hiện trên cơ sở tự nguyện của các bên và được lập thành văn bản.

2. Vợ chồng có quyền nhờ người mang thai hộ khi có đủ các điều kiện sau đây:

a) Có xác nhận của tổ chức y tế có thẩm quyền về việc người vợ không thể mang thai và sinh con ngay cả khi áp dụng kỹ thuật hỗ trợ sinh sản;

b) Vợ chồng đang không có con chung;

c) Đã được tư vấn về y tế, pháp lý, tâm lý.

3. Người được nhờ mang thai hộ phải có đủ các điều kiện sau đây:

a) Là người thân thích cùng hàng của bên vợ hoặc bên chồng nhờ mang thai hộ;

b) Đã từng sinh con và chỉ được mang thai hộ một lần;

c) Ở độ tuổi phù hợp và có xác nhận của tổ chức y tế có thẩm quyền về khả năng mang thai hộ;

d) Trường hợp người phụ nữ mang thai hộ có chồng thì phải có sự đồng ý bằng văn bản của người chồng;

đ) Đã được tư vấn về y tế, pháp lý, tâm lý.

4. Việc mang thai hộ vì mục đích nhân đạo không được trái với quy định của pháp luật về sinh con bằng kỹ thuật hỗ trợ sinh sản.

5. Chính phủ quy định chi tiết Điều này”.

Thỏa thuận về mang thai hộ vì mục đích nhân đạo giữa vợ chồng nhờ mang thai hộ và người mang thai hộ phải có các nội dung cơ bản được quy định tại Điều 96 của Luật này. Đó là:

“a) Thông tin đầy đủ về bên nhờ mang thai hộ và bên mang thai hộ theo các điều kiện có liên quan quy định tại Điều 95 của Luật này;

b) Cam kết thực hiện các quyền, nghĩa vụ quy định tại Điều 97 và Điều 98 của Luật này;

c) Việc giải quyết hậu quả trong trường hợp có tai biến sản khoa; hỗ trợ để bảo đảm sức khỏe sinh sản cho người mang thai hộ trong thời gian mang thai và sinh con, việc nhận con của bên nhờ mang thai hộ, quyền và nghĩa vụ của hai bên đối với con trong trường hợp con chưa được giao cho bên nhờ mang thai hộ và các quyền, nghĩa vụ khác có liên quan;

d) Trách nhiệm dân sự trong trường hợp một hoặc cả hai bên vi phạm cam kết theo thỏa thuận”.

Lưu ý, thỏa thuận về việc mang thai hộ phải được lập thành văn bản có công chứng. Trong trường hợp vợ chồng bên nhờ mang thai hộ ủy quyền cho nhau hoặc vợ chồng bên mang thai hộ ủy quyền cho nhau về việc thỏa thuận thì việc ủy quyền phải lập thành văn bản có công chứng. Việc ủy quyền cho người thứ ba không có giá trị pháp lý.

Trong trường hợp thỏa thuận về mang thai hộ giữa bên mang thai hộ và bên nhờ mang thai hộ được lập cùng với thỏa thuận giữa họ với cơ sở y tế thực hiện việc sinh con bằng kỹ thuật hỗ trợ sinh sản thì thỏa thuận này phải có xác nhận của người có thẩm quyền của cơ sở y tế này.

Tóm lại, việc mang thai hộ vì mục đích nhân đạo được thực hiện bằng việc thụ tinh trong ống nghiệm giữa noãn của người vợ và tinh trùng của người chồng, sau đó cấy vào tử cung của người phụ nữ khác để mang thai và sinh con. Có nghĩa là, việc quan hệ trực tiếp giữa chồng bạn với người phụ nữ kia để có thai không phải là mang thai hộ, mà con sinh ra là con chung giữa chồng bạn và người phụ nữ này.

Thông tin chồng bạn nói rằng người phụ nữa kia chấp nhận quan hệ, mang thai hộ để nhận khoản tiền lớn từ gia đình bạn chính là mang thai hộ vì mục đích thương mại cũng không đúng. Bởi vì, theo khoản 23 Điều 3 của Luật này, “mang thai hộ vì mục đích thương mại là việc một người phụ nữ mang thai cho người khác bằng việc áp dụng kỹ thuật hỗ trợ sinh sản để được hưởng lợi về kinh tế hoặc lợi ích khác”.

Có thể thấy, việc chồng bạn chung sống như vợ chồng với người khác, có con với nhau là vi phạm điều cấm của pháp luật hôn nhân và gia đình, vi phạm nghĩa vụ chung thủy giữa vợ và chồng.

Người vi phạm bị xử lý theo quy định của pháp luật. Cụ thể, nếu bị xử lý hình sự, Điều 182 Bộ luật Hình sự năm 2015 quy định về Tội vi phạm chế độ một vợ, một chồng như sau:

“1. Người nào đang có vợ, có chồng mà kết hôn hoặc chung sống như vợ chồng với người khác hoặc người chưa có vợ, chưa có chồng mà kết hôn hoặc chung sống như vợ chồng với người mà mình biết rõ là đang có chồng, có vợ thuộc một trong các trường hợp sau đây, thì bị phạt cảnh cáo, phạt cải tạo không giam giữ đến 01 năm hoặc phạt tù từ 03 tháng đến 01 năm:

a) Làm cho quan hệ hôn nhân của một hoặc hai bên dẫn đến ly hôn;

b) Đã bị xử phạt vi phạm hành chính về hành vi này mà còn vi phạm.

2. Phạm tội thuộc một trong các trường hợp sau đây, thì bị phạt tù từ 06 tháng đến 03 năm:

a) Làm cho vợ, chồng hoặc con của một trong hai bên tự sát;

b) Đã có quyết định của Tòa án hủy việc kết hôn hoặc buộc phải chấm dứt việc chung sống như vợ chồng trái với chế độ một vợ, một chồng mà vẫn duy trì quan hệ đó”.

Trường hợp bị xử lý hành chính, theo điểm b khoản 1 Điều 59 Nghị định số 82/2020/NĐ-CP ngày 15/7/2020 của Chính phủ, “đang có vợ hoặc đang có chồng mà chung sống như vợ chồng với người khác” bị phạt tiền từ 3.000.000 đồng đến 5.000.000 đồng.

Thu Hường

Vũ Thị Thanh Tú

Xem thêm

Luật Sư Việt Nam

Bình luận