Ly hôn đơn phương với người bị tuyên bố mất tích
Vợ anh bạn tôi bỏ nhà đi mấy năm nay, không liên hệ gì với gia đình nhà chồng. Vì trước đó giữa họ có mâu thuẫn nghiêm trọng, nên anh ý cũng không cố gắng tìm xem chị vợ đang ở đâu.
Xin hỏi các anh chị, trong trường hợp trên, anh chồng có quyền đề nghị Tòa án giải quyết đơn phương ly hôn hay không? nếu được ly hôn, tài sản chung của hai người anh chồng có đương nhiên được tiếp tục quản lý, sử dụng hay không?
Trả lời
Theo khoản 14 Điều 32 Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014, “ly hôn là việc chấm dứt quan hệ vợ chồng theo bản án, quyết định có hiệu lực pháp luật của Tòa án”.
Về nguyên tắc, vợ, chồng hoặc cả hai người có quyền yêu cầu Tòa án giải quyết ly hôn. Thậm chí, cha, mẹ, người thân thích khác có quyền yêu cầu Tòa án giải quyết ly hôn khi một bên vợ, chồng do bị bệnh tâm thần hoặc mắc bệnh khác mà không thể nhận thức, làm chủ được hành vi của mình, đồng thời là nạn nhân của bạo lực gia đình do chồng, vợ của họ gây ra làm ảnh hưởng nghiêm trọng đến tính mạng, sức khỏe, tinh thần của họ. Người chồng không có quyền yêu cầu ly hôn trong trường hợp vợ đang có thai, sinh con hoặc đang nuôi con dưới 12 tháng tuổi.
Thuận tình ly hôn là trường hợp vợ chồng cùng yêu cầu ly hôn. Xét thấy hai bên thật sự tự nguyện ly hôn và đã thỏa thuận về việc chia tài sản, việc trông nom, nuôi dưỡng, chăm sóc, giáo dục con trên cơ sở bảo đảm quyền lợi chính đáng của vợ và con thì Tòa án công nhận thuận tình ly hôn; nếu không thỏa thuận được hoặc có thỏa thuận nhưng không bảo đảm quyền lợi chính đáng của vợ và con thì Tòa án giải quyết việc ly hôn.
Ly hôn theo yêu cầu của một bên, hay còn gọi là đơn phương ly hôn được quy định tại Điều 56 của Luật này như sau:
“1. Khi vợ hoặc chồng yêu cầu ly hôn mà hòa giải tại Tòa án không thành thì Tòa án giải quyết cho ly hôn nếu có căn cứ về việc vợ, chồng có hành vi bạo lực gia đình hoặc vi phạm nghiêm trọng quyền, nghĩa vụ của vợ, chồng làm cho hôn nhân lâm vào tình trạng trầm trọng, đời sống chung không thể kéo dài, mục đích của hôn nhân không đạt được.
2. Trong trường hợp vợ hoặc chồng của người bị Tòa án tuyên bố mất tích yêu cầu ly hôn thì Tòa án giải quyết cho ly hôn.
3. Trong trường hợp có yêu cầu ly hôn theo quy định tại khoản 2 Điều 51 của Luật này thì Tòa án giải quyết cho ly hôn nếu có căn cứ về việc chồng, vợ có hành vi bạo lực gia đình làm ảnh hưởng nghiêm trọng đến tính mạng, sức khỏe, tinh thần của người kia”.
Vì người vợ đã bỏ nhà đi mấy năm, để đề nghị Tòa án giải quyết thủ tục đơn phương ly hôn, trước tiên, anh chồng cần thực hiện thủ tục đề nghị Tòa án tuyên bố mất tích, được quy định tại Điều 68 Bộ luật Dân sự năm 2015. Cụ thể:
“1. Khi một người biệt tích 02 năm liền trở lên, mặc dù đã áp dụng đầy đủ các biện pháp thông báo, tìm kiếm theo quy định của pháp luật về tố tụng dân sự nhưng vẫn không có tin tức xác thực về việc người đó còn sống hay đã chết thì theo yêu cầu của người có quyền, lợi ích liên quan, Tòa án có thể tuyên bố người đó mất tích.
Thời hạn 02 năm được tính từ ngày biết được tin tức cuối cùng về người đó; nếu không xác định được ngày có tin tức cuối cùng thì thời hạn này được tính từ ngày đầu tiên của tháng tiếp theo tháng có tin tức cuối cùng; nếu không xác định được ngày, tháng có tin tức cuối cùng thì thời hạn này được tính từ ngày đầu tiên của năm tiếp theo năm có tin tức cuối cùng.
2. Trường hợp vợ hoặc chồng của người bị tuyên bố mất tích xin ly hôn thì Tòa án giải quyết cho ly hôn theo quy định của pháp luật về hôn nhân và gia đình.
3. Quyết định của Tòa án tuyên bố một người mất tích phải được gửi cho Ủy ban nhân dân cấp xã nơi cư trú cuối cùng của người bị tuyên bố mất tích để ghi chú theo quy định của pháp luật về hộ tịch”.
Anh chồng cần chuẩn bị hồ sơ, giấy tờ gửi đến tòa án nhân dân cấp huyện nơi người vợ cư trú trước khi mất tích, bao gồm:
- Đơn yêu cầu (theo mẫu của Tòa án)
- Các thông tin, giấy tờ chứng minh những người thân đã thông báo tìm kiếm nhưng đều không biết thông tin về chị vợ.
- Xác nhận của chính quyền địa phương về việc chị vợ rời khỏi địa phương, rời khỏi nơi cư trú cuối cùng đã có thời hạn từ 2 năm trở lên. Trong thời hạn 2 năm đó, không ai trong gia đình, người thân biết được nơi cư trú cuối cùng của chị vợ.
- Các giấy tờ tài liệu về nhân thân của anh chồng để chứng minh có quyền và nghĩa vụ liên quan đến người bị tuyên bố mất tích.
Sau khi Tòa án tuyên bố chị vợ mất tích, anh chồng có quyền thực hiện thủ tục đề nghị Tòa án giải quyết cho ly hôn.
Theo khoản 2 Điều 59 Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014, tài sản chung của vợ chồng được chia đôi nhưng có tính đến các yếu tố sau đây:
“a) Hoàn cảnh của gia đình và của vợ, chồng;
b) Công sức đóng góp của vợ, chồng vào việc tạo lập, duy trì và phát triển khối tài sản chung. Lao động của vợ, chồng trong gia đình được coi như lao động có thu nhập;
c) Bảo vệ lợi ích chính đáng của mỗi bên trong sản xuất, kinh doanh và nghề nghiệp để các bên có điều kiện tiếp tục lao động tạo thu nhập;
d) Lỗi của mỗi bên trong vi phạm quyền, nghĩa vụ của vợ chồng”.
Khi Tòa án đồng ý giải quyết ly hôn, tài sản của của chị vợ được giao cho con thành niên hoặc cha, mẹ của chị vợ quản lý. Nếu không có những người này thì giao cho người thân thích của chị vợ quản lý. Nếu không có người thân thích thì Tòa án chỉ định người khác quản lý tài sản. Bởi vì, Điều 69 Bộ luật Dân sự năm 2015 quy định: “Trường hợp Tòa án giải quyết cho vợ hoặc chồng của người bị tuyên bố mất tích ly hôn thì tài sản của người mất tích được giao cho con thành niên hoặc cha, mẹ của người mất tích quản lý; nếu không có những người này thì giao cho người thân thích của người mất tích quản lý; nếu không có người thân thích thì Tòa án chỉ định người khác quản lý tài sản”.
Hùng Phi
Vũ Thị Thanh Tú