Ly hôn khi một bên mất năng lực hành vi dân sự?
Bà Trần Ngọc B kết hôn với ông Lê Văn H trên cơ sở tự nguyện, có đăng ký kết hôn. Ông Lê Văn H phát bệnh và não bị tổn thương, đi đứng nhận thức không rõ ràng. Tòa án nhân dân thị xã T (nơi bà Trần...
bản án tuyên bố ông ông Lê Văn H mất năng lực hành vi dân sự. Nay bà Trần Ngọc B đề nghị yêu cầu được ly hôn với ông Lê Văn H với lý do: Ông Lê Văn H mất năng lực hành vi dân sự nên tình cảm vợ chồng không còn. Đề nghị cho biết việc bà Trần Ngọc B có thể ly hôn với ông Lê Văn H được không?
Trả lời:
- Khoản 14 Điều 3 Luật Hôn nhân Gia đình năm 2014 quy định: “Ly hôn là việc chấm dứt quan hệ vợ chồng theo bản án, quyết định có hiệu lực pháp luật của Tòa án. Vợ, chồng hoặc cả hai người có quyền yêu cầu Tòa án giải quyết ly hôn”.
- Điều 51 Luật Hôn nhân Gia đình năm 2014 quy định về quyền yêu cầu giải quyết ly hôn như sau:
“1. Vợ, chồng hoặc cả hai người có quyền yêu cầu Tòa án giải quyết ly hôn.
2. Cha, mẹ, người thân thích khác có quyền yêu cầu Tòa án giải quyết ly hôn khi một bên vợ, chồng do bị bệnh tâm thần hoặc mắc bệnh khác mà không thể nhận thức, làm chủ được hành vi của mình, đồng thời là nạn nhân của bạo lực gia đình do chồng, vợ của họ gây ra làm ảnh hưởng nghiêm trọng đến tính mạng, sức khỏe, tinh thần của họ.
3. Chồng không có quyền yêu cầu ly hôn trong trường hợp vợ đang có thai, sinh con hoặc đang nuôi con dưới 12 tháng tuổi”.
- Điều 24 Luật Hôn nhân và gia đình quy định về căn cứ xác lập đại diện giữa vợ và chồng như sau:
“1. Việc đại diện giữa vợ và chồng trong xác lập, thực hiện, chấm dứt giao dịch được xác định theo quy định của Luật này, Bộ luật dân sự và các luật khác có liên quan.
2. Vợ, chồng có thể ủy quyền cho nhau xác lập, thực hiện và chấm dứt giao dịch mà theo quy định của Luật này, Bộ luật dân sự và các luật khác có liên quan phải có sự đồng ý của cả hai vợ chồng.
3. Vợ, chồng đại diện cho nhau khi một bên mất năng lực hành vi dân sự mà bên kia có đủ điều kiện làm người giám hộ hoặc khi một bên bị hạn chế năng lực hành vi dân sự mà bên kia được Tòa án chỉ định làm người đại diện theo pháp luật cho người đó, trừ trường hợp theo quy định của pháp luật thì người đó phải tự mình thực hiện quyền, nghĩa vụ có liên quan.
Trong trường hợp một bên vợ, chồng mất năng lực hành vi dân sự mà bên kia có yêu cầu Tòa án giải quyết ly hôn thì căn cứ vào quy định về giám hộ trong Bộ luật dân sự, Tòa án chỉ định người khác đại diện cho người bị mất năng lực hành vi dân sự để giải quyết việc ly hôn”.
- Khoản 1 Điều 88 Bộ luật Tố tụng Dân sự 2015 (BLTTDS): “Trong khi tiến hành tố tụng dân sự, nếu có đương sự là người bị hạn chế năng lực hành vi dân sự mà không có người đại diện hoặc người đại diện theo pháp luật của họ thuộc một trong các trường hợp quy định tại khoản 1 Điều 87 của bộ luật này thì tòa án phải chỉ định người đại diện để tham gia tố tụng tại tòa án”.
- Điều 207 Bộ luật Tố tụng Dân sự 2015 quy định những vụ án dân sự không tiến hành hòa giải được như sau:
“1. Bị đơn, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan đã được Tòa án triệu tập hợp lệ lần thứ hai mà vẫn cố tình vắng mặt.
2. Đương sự không thể tham gia hòa giải được vì có lý do chính đáng.
3. Đương sự là vợ hoặc chồng trong vụ án ly hôn là người mất năng lực hành vi dân sự.
4. Một trong các đương sự đề nghị không tiến hành hòa giải”.
Theo quy định của pháp luật thì vợ, chồng hoặc cả hai người có quyền yêu cầu Tòa án giải quyết ly hôn. Thông thường, vợ, chồng đại diện cho nhau khi một bên mất năng lực hành vi dân sự. Tuy nhiên, trong trường hợp này do người chồng đã bị tuyên bố mất năng lực hành vi dân sự thì Tòa án chỉ định người khác đại diện cho người bị mất năng lực hành vi dân sự để giải quyết việc ly hôn. Như vậy, khi một bên bị mất năng lực hành vi dân sự, người còn lại vẫn có thể yêu cầu Tòa án cho ly hôn. Điểm khác biệt của vụ án ly hôn với người bị mất năng lực hành vi dân sự là sau khi thụ lý, tòa án sẽ tiến hành đưa vụ án ra xét xử mà không qua thủ tục hòa giải như các vụ án ly hôn thông thường theo Khoản 3 Điều 207 BLTTDS.
Như Quỳnh
Đỗ Như Quỳnh