📞 Hotline: 0989919161✉️ Email: [email protected]
Giải đáp pháp luật

Lập di chúc thế nào để tránh không bị tranh chấp tài sản

Tôi đang bị bệnh hiểm nghèo, muốn lập di chúc để lại hết tài sản cho vợ, con để sau khi tôi mất vợ con tôi được hưởng thừa kế nhanh và đơn giản nhất. Tôi thấy nhiều trường hợp dù đã viết di chúc...

nhất định, nhưng người hưởng thừa kế sau đó vẫn bị vướng mắc nhiều thủ tục, rất lâu mới được nhận tài sản hợp pháp. Đề nghị cho biết những lưu ý khi làm di chúc (dành cho người lập di chúc), và khi hưởng tài sản thừa thế (dành cho người được hưởng tài sản, trường hợp này là vợ con tôi), để việc nhận thừa kế đơn giản nhất, không bị tranh chấp với ai, không vướng mắc hay bị tuyên vô hiệu.

Trả lời:

- Khoản 1 Điều 630 Bộ luật Dân sự 2015 quy định di chúc hợp pháp phải có đủ các điều kiện sau:

“a) Người lập di chúc minh mẫn, sáng suốt trong khi lập di chúc; không bị lừa dối, đe dọa, cưỡng ép;

b) Nội dung của di chúc không vi phạm điều cấm của luật, không trái đạo đức xã hội; hình thức di chúc không trái quy định của luật”.

- Điều 631 Bộ luật Dân sự 2015 quy định nội dung của di chúc như sau:

1. Di chúc gồm các nội dung chủ yếu sau:

a) Ngày, tháng, năm lập di chúc;

b) Họ, tên và nơi cư trú của người lập di chúc;

c) Họ, tên người, cơ quan, tổ chức được hưởng di sản;

d) Di sản để lại và nơi có di sản.

2. Ngoài các nội dung quy định tại khoản 1 Điều này, di chúc có thể có các nội dung khác.

3. Di chúc không được viết tắt hoặc viết bằng ký hiệu, nếu di chúc gồm nhiều trang thì mỗi trang phải được ghi số thứ tự và có chữ ký hoặc điểm chỉ của người lập di chúc.

Trường hợp di chúc có sự tẩy xóa, sửa chữa thì người tự viết di chúc hoặc người làm chứng di chúc phải ký tên bên cạnh chỗ tẩy xóa, sửa chữa.

- Điều 632 Bộ luật Dân sự 2015 quy định người làm chứng cho việc lập di chúc:

“Mọi người đều có thể làm chứng cho việc lập di chúc, trừ những người sau đây:

1. Người thừa kế theo di chúc hoặc theo pháp luật của người lập di chúc.

2. Người có quyền, nghĩa vụ tài sản liên quan tới nội dung di chúc.

3. Người chưa thành niên, người mất năng lực hành vi dân sự, người có khó khăn trong nhận thức, làm chủ hành vi”.

- Điều 633 Bộ luật Dân sự 2015 quy định Di chúc bằng văn bản không có người làm chứng:

“Người lập di chúc phải tự viết và ký vào bản di chúc.

Việc lập di chúc bằng văn bản không có người làm chứng phải tuân theo quy định tại Điều 631 của Bộ luật này”.

- Điều 634 Bộ luật Dân sự 2015 quy định Di chúc bằng văn bản có người làm chứng

Trường hợp người lập di chúc không tự mình viết bản di chúc thì có thể tự mình đánh máy hoặc nhờ người khác viết hoặc đánh máy bản di chúc, nhưng phải có ít nhất là hai người làm chứng. Người lập di chúc phải ký hoặc điểm chỉ vào bản di chúc trước mặt những người làm chứng; những người làm chứng xác nhận chữ ký, điểm chỉ của người lập di chúc và ký vào bản di chúc.

- Điều 644 Bộ luật Dân sự 2015 quy định người thừa kế không phụ thuộc vào nội dung của di chúc:

“1. Những người sau đây vẫn được hưởng phần di sản bằng hai phần ba suất của một người thừa kế theo pháp luật nếu di sản được chia theo pháp luật, trong trường hợp họ không được người lập di chúc cho hưởng di sản hoặc chỉ cho hưởng phần di sản ít hơn hai phần ba suất đó:

a) Con chưa thành niên, cha, mẹ, vợ, chồng;

b) Con thành niên mà không có khả năng lao động.

2. Quy định tại khoản 1 Điều này không áp dụng đối với người từ chối nhận di sản theo quy định tại Điều 620 hoặc họ là những người không có quyền hưởng di sản theo quy định tại khoản 1 Điều 621 của Bộ luật này”.

Theo quy định của pháp luật, đối với di chúc bằng văn bản, hiện có 4 hình thức là: Di chúc bằng văn bản không có người làm chứng; Di chúc bằng văn bản có người làm chứng; Di chúc bằng văn bản có công chứng; Di chúc bằng văn bản có chứng thực. Dù 4 hình thức trên đều được pháp luật công nhận, có giá trị pháp lý như nhau nhưng trên thực tế việc khai nhận thừa kế (thực hiện tại tổ chức hành nghề công chứng) cũng như trước bạ, sang tên đối với di sản là nhà, đất (đăng ký biến động tại Văn phòng đăng ký đất đai) sẽ thuận lợi hơn nếu di chúc được công chứng hoặc chứng thực. Một số trường hợp dù di chúc được công chứng, chứng thực nhưng việc khai nhận vẫn gặp khó khăn bởi nội dung di chúc không phù hợp với các quy định của pháp luật (Điều 644 Bộ Luật Dân sự 2015).

Như Quỳnh

Đỗ Như Quỳnh

Xem thêm

Luật Sư Việt Nam

Bình luận