📞 Hotline: 0989919161✉️ Email: [email protected]
Giải đáp pháp luật

Kinh doanh karaoke khi có quyết định dừng hoạt động bị xử lý như thế nào?

Hiện nay, cả thành phố Hà Nội đang tập trung cao độ cho công tác phòng, chống dịch COVID-19. Tuy nhiên, ở khu dân cư nơi tôi sinh sống vẫn còn một số chủ quán karaoke lén lút mở quán đón khách vào...

Hiện nay, cả thành phố Hà Nội đang tập trung cao độ cho công tác phòng, chống dịch COVID-19. Tuy nhiên, ở khu dân cư nơi tôi sinh sống vẫn còn một số chủ quán karaoke lén lút mở quán đón khách vào hát về đêm, điều này có nguy cơ rất lớn làm lây lan dịch bệnh. Mặt khác, các quán này đều hoạt động không có giấy phép. Xin hỏi việc làm trên của các chủ quán karaoke sẽ bị xử lý như thế nào?

Trả lời:

Ngày 05/5/2021, Chủ tịch UBND thành phố Hà Nội đã ban hành Chỉ thị số 11/CT-UBND về tăng cường thực hiện quyết liệt các biện pháp phòng, chống dịch COVID-19 trong tình hình mới, trong đó tại điểm 2.7 của Chỉ thị đã yêu cầu: “Dừng các hoạt động lễ hội, nghi lễ tôn giáo, giải đấu thể thao, Karaoke, quán Bar, vũ trường, Game, Internet; các rạp, trung tâm chiếu phim; các cơ sở dịch vụ spa, massage, xông hơi, phòng tập gym; các hoạt động tập thể dục, thể thao, các sự kiện tập trung đông người tại khu vực công cộng, vườn hoa, công viên cho đến khi có chỉ đạo mới của Ban Chỉ đạo Thành phố. Thực hiện việc hiếu, hỷ văn minh, hạn chế tối đa tập trung đông người và đảm bảo thực hiện nghiêm các biện pháp phòng, chống dịch.”

Như vậy, hành vi của các chủ quán karaoke mở quán đón khách vào hát sau khi Thành phố đã có Chỉ thị dừng hoạt động karaoke là hành vi vi phạm và sẽ bị xử lý theo quy định của pháp luật, cụ thể như sau:

- Xử phạt vi phạm hành chính: Hành vi của các chủ quán karaoke không thực hiện quyết định áp dụng biện pháp hạn chế tập trung đông người hoặc tạm đình chỉ hoạt động kinh doanh, dịch vụ tại nơi công cộng sẽ bị phạt vi phạm hành chính với mức tối đa là 20.000.000 đồng theo quy định tại điểm c, khoản 3, Điều 12 Nghị định số 117/2020/NĐ-CP ngày 28/09/2020 của Chính phủ quy định xử phạt vi phạm hành chính trong lĩnh vực y tế.

Đối với hành vi kinh doanh dịch vụ karaoke không có giấy phép của các chủ quán sẽ bị phạt vi phạm hành chính với mức tối đa là 20.000.000 đồng theo quy định tại điểm a khoản 3 Điều 17 Nghị định số 158/2013/NĐ-CP ngày 12/11/2013 của Chính phủ quy định xử phạt vi phạm hành chính trong lĩnh vực văn hóa, thể thao, du lịch và quảng cáo.

Ngoài ra, các chủ quán này còn có thể bị xử phạt vi phạm hành chính đối với hành vi không đảm bảo điều kiện an ninh trật tự trong hoạt động kinh doanh với mức tối đa 15.000.000 đồng theo quy định tại điểm a, khoản 3 Điều 11 Nghị định số 158/2013/NĐ-CP ngày 12/11/2013 của Chính phủ quy định xử phạt vi phạm hành chính trong lĩnh vực văn hóa, thể thao, du lịch và quảng cáo và còn có thể bị xử phạt vi phạm hành chính đối với hành vi hành vi đưa nhà, công trình vào sử dụng không đảm bảo một trong các điều kiện về an toàn phòng cháy và chữa cháy đối với công trình không thuộc diện phải thẩm duyệt về phòng cháy và chữa cháy với mức tối đa 5.000.000 đồng theo quy định tại khoản 3 Điều 36 Nghị định số 167/2013/NĐ-CP ngày 12/11/2013 của Chính phủ quy định xử phạt vi phạm hành chính trong lĩnh vực an ninh, trật tự, an toàn xã hội; phòng, chống tệ nạn xã hội; phòng cháy và chữa cháy; phòng, chng bạo lực gia đình.

- Xử lý về hình sự: Theo hướng dẫn tại điểm 1.3 Công văn số 45/TANDTC-PC ngày 30/03/2020 về việc xét xử tội phạm liên quan đến phòng, chống dịch bệnh Covid-19 của Hội đồng thẩm phán Tòa án nhân dân tối cao: “Chủ cơ sở kinh doanh, người quản lý cơ sở kinh doanh dịch vụ (như quán ba, vũ trường, karaoke, dịch vụ mát-xa, cơ sở thẩm mỹ...) thực hiện hoạt động kinh doanh khi đã có quyết định tạm đình chỉ hoạt động kinh doanh để phòng chống dịch bệnh Covid-19 của cơ quan, người có thẩm quyền, gây thiệt hại từ 100.000.000 đồng trở lên do phát sinh chi phí phòng, chống dịch bệnh thì bị xử lý về tội vi phạm quy định về an toàn ở nơi đông người theo quy định tại Điều 295”.

Cụ thể, Điều 295 Bộ luật Hình sự năm 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2017) quy định về tội vi phạm quy định về an toàn lao động, vệ sinh lao động, về an toàn ở nơi đông người như sau:

1. Người nào vi phạm quy định về an toàn lao động, vệ sinh lao động, về an toàn ở nơi đông người gây thiệt hại cho người khác thuộc một trong các trường hợp sau đây, thì bị phạt tiền từ 20.000.000 đồng đến 100.000.000 đồng, phạt cải tạo không giam giữ đến 03 năm hoặc phạt tù từ 01 năm đến 05 năm:

a) Làm chết người;

b) Gây thương tích hoặc gây tổn hại cho sức khỏe của 01 người mà tỷ lệ tổn thương th61% trở lên;

c) Gây thương tích hoặc gây tổn hại cho sức khỏe của 02 người trở lên mà tng tỷ lệ tổn thương cơ thể của những người này từ 61% đến 121%;

d) Gây thiệt hại về tài sản từ 100.000.000 đồng đến dưới 500.000.000 đồng.

2. Phạm tội thuộc một trong các trường hợp sau đây, thì bị phạt tù từ 03 năm đến 07 năm:

a) Làm chết 02 người;

b) Gây thương tích hoặc gây tn hại cho sức khỏe của 02 người trở lên mà tng tỷ lệ tổn thương cơ thể của những người này từ 122% đến 200%;

c) Gây thiệt hại về tài sản từ 500.000.000 đồng đến dưới 1.500.000.000 đồng;

d) Là người có trách nhiệm về an toàn lao động, vệ sinh lao động, về an toàn ở nơi đông người.

3. Phạm tội thuộc một trong các trường hợp sau đây, thì bị phạt tù từ 06 năm đến 12 năm:

a) Làm chết 03 người trở lên;

b) Gây thương tích hoặc gây tn hại cho sức khỏe của 03 người trở lên mà tng tỷ lệ tn thương cơ thcủa những người này 201% trở lên;

c) Gây thiệt hại về tài sản 1.500.000.000 đồng trở lên.

4. Vi phạm quy định về an toàn lao động, vệ sinh lao động, về an toàn ở nơi đông người trong trường hợp có khả năng thực tế dẫn đến hậu quả quy định tại một trong các điểm a, b và c khoản 3 Điều này nếu không được ngăn chặn kịp thời, thì bị phạt cải tạo không giam giữ đến 02 năm hoặc phạt tù từ 03 tháng đến 02 năm.

5. Người phạm tội còn có thể bị phạt tiền từ 10.000.000 đồng đến 50.000.000 đng, cấm đảm nhiệm chức vụ, cấm hành nghề hoặc làm công việc nhất định từ 01 năm đến 05 năm.

Khánh Chi

Nguyễn Sỹ Tuấn

Xem thêm

Luật Sư Việt Nam

Bình luận