📞 Hotline: 0989919161✉️ Email: [email protected]
Giải đáp pháp luật

Không kết hôn có được hưởng thừa kế không?

Anh Hà và chị Oanh kết hôn năm 1995. Anh chị có hai con gái là Minh sinh năm 1996 và Tiên sinh năm 2003. Năm 2014, anh Hà đi lao động ở nước ngoài và chung sống như vợ chồng với chị Lý, hai người...

sinh năm 2016. Tháng 12/2019, Hà về nước và yêu cầu chị Oanh ly hôn, Toà án đã thụ lý đơn. Ngày 08/01/2020, anh Hà bị nhồi máu cơ tim phải nhập viện cấp cứu, trước khi chết anh Hà di chúc để lại cho chị Lý, cháu Cường mỗi người 01 phần đều nhau. Nay, chị Lý đến đòi chia di sản thừa kế của anh Hà nhưng gia đình anh Hà không đồng ý. Vì vậy chị Lý làm đơn kiện yêu cầu Tòa án giải quyết. Được biết, anh Hà và chị Lý cùng kinh doanh có khối tài sản chung là 2,5 tỷ đồng. Tài sản chung của anh Hà và chị Oanh là 880 triệu đồng. Tiền mai táng anh Hà hết 120 triệu đồng. Đề nghị cho biết, di sản của Hà sẽ được chia như thế nào?

Câu trả lời

- Điều 612 Bộ luật Dân sự năm 2015 quy định "Di sản bao gồm tài sản riêng của người chết, phần tài sản của người chết trong tài sản chung với người khác."

- Điều 624 Bộ luật Dân sự năm 2015 quy định về di chúc như sau: “Di chúc là sự thể hiện ý chí của cá nhân nhằm chuyển tài sản của mình cho người khác sau khi chết”.

- Điều 644 Bộ luật Dân sự 2015 có quy định về người thừa kế không phụ thuộc vào nội dung của di chúc như sau:

1. Những người sau đây vẫn được hưởng phần di sản bằng hai phần ba suất của một người thừa kế theo pháp luật nếu di sản được chia theo pháp luật, trong trường hợp họ không được người lập di chúc cho hưởng di sản hoặc chỉ cho hưởng phần di sản ít hơn hai phần ba suất đó:

a) Con chưa thành niên, cha, mẹ, vợ, chồng;

b) Con thành niên mà không có khả năng lao động.

2. Quy định tại khoản 1 Điều này không áp dụng đối với người từ chối nhận di sản theo quy định tại Điều 620 hoặc họ là những người không có quyền hưởng di sản theo quy định tại khoản 1 Điều 621 của Bộ luật này.

- Khoản 1 Điều 621 Bộ Luật Dân sự 2015 quy định người không được quyền hưởng di sản như sau:

“1. Những người sau đây không được quyền hưởng di sản:

a) Người bị kết án về hành vi cố ý xâm phạm tính mạng, sức khỏe hoặc về hành vi ngược đãi nghiêm trọng, hành hạ người để lại di sản, xâm phạm nghiêm trọng danh dự, nhân phẩm của người đó;

b) Người vi phạm nghiêm trọng nghĩa vụ nuôi dưỡng người để lại di sản;

c) Người bị kết án về hành vi cố ý xâm phạm tính mạng người thừa kế khác nhằm hưởng một phần hoặc toàn bộ phần di sản mà người thừa kế đó có quyền hưởng;

d) Người có hành vi lừa dối, cưỡng ép hoặc ngăn cản người để lại di sản trong việc lập di chúc; giả mạo di chúc, sửa chữa di chúc, hủy di chúc, che giấu di chúc nhằm hưởng một phần hoặc toàn bộ di sản trái với ý chí của người để lại di sản”.

- Điều 658 Bộ luật Dân sự 2015 quy định:

“Các nghĩa vụ tài sản và các khoản chi phí liên quan đến thừa kế được thanh toán theo thứ tự sau đây:

1. Chi phí hợp lý theo tập quán cho việc mai táng.

2. Tiền cấp dưỡng còn thiếu.

3. Chi phí cho việc bảo quản di sản.

4. Tiền trợ cấp cho người sống nương nhờ.

5. Tiền công lao động.

6. Tiền bồi thường thiệt hại.

7. Thuế và các khoản phải nộp khác vào ngân sách nhà nước.

8. Các khoản nợ khác đối với cá nhân, pháp nhân.

9. Tiền phạt.

10. Các chi phí khác”.

- Điều 21 Bộ Luật Dân sự 2015 quy định người chưa thành niên như sau:

“1. Người chưa thành niên là người chưa đủ mười tám tuổi.

2. Giao dịch dân sự của người chưa đủ sáu tuổi do người đại diện theo pháp luật của người đó xác lập, thực hiện.

3. Người từ đủ sáu tuổi đến chưa đủ mười lăm tuổi khi xác lập, thực hiện giao dịch dân sự phải được người đại diện theo pháp luật đồng ý, trừ giao dịch dân sự phục vụ nhu cầu sinh hoạt hàng ngày phù hợp với lứa tuổi.

4. Người từ đủ mười lăm tuổi đến chưa đủ mười tám tuổi tự mình xác lập, thực hiện giao dịch dân sự, trừ giao dịch dân sự liên quan đến bất động sản, động sản phải đăng ký và giao dịch dân sự khác theo quy định của luật phải được người đại diện theo pháp luật đồng ý”.

- Khoản 1 Điều 644 Bộ Luật Dân sự 2015 quy định người thừa kế không phụ thuộc vào nội dung của di chúc

“1. Những người sau đây vẫn được hưởng phần di sản bằng hai phần ba suất của một người thừa kế theo pháp luật nếu di sản được chia theo pháp luật, trong trường hợp họ không được người lập di chúc cho hưởng di sản hoặc chỉ cho hưởng phần di sản ít hơn hai phần ba suất đó:

a) Con chưa thành niên, cha, mẹ, vợ, chồng;

b) Con thành niên mà không có khả năng lao động”.

- Khoản 1 Điều 33 Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014 quy định tài sản chung của vợ chồng như sau:

“1. Tài sản chung của vợ chồng gồm tài sản do vợ, chồng tạo ra, thu nhập do lao động, hoạt động sản xuất, kinh doanh, hoa lợi, lợi tức phát sinh từ tài sản riêng và thu nhập hợp pháp khác trong thời kỳ hôn nhân, trừ trường hợp chia tài sản chung của vợ chồng (thì phần tài sản được chia, hoa lợi, lợi tức phát sinh từ tài sản riêng của mỗi bên sau khi chia tài sản chung là tài sản riêng của vợ, chồng, trừ trường hợp vợ chồng có thỏa thuận khác. Phần tài sản còn lại không chia vẫn là tài sản chung của vợ chồng); tài sản mà vợ chồng được thừa kế chung hoặc được tặng cho chung và tài sản khác mà vợ chồng thỏa thuận là tài sản chung.

Quyền sử dụng đất mà vợ, chồng có được sau khi kết hôn là tài sản chung của vợ chồng, trừ trường hợp vợ hoặc chồng được thừa kế riêng, được tặng cho riêng hoặc có được thông qua giao dịch bằng tài sản riêng”.

Theo thông tin cung cấp ở trên thì không rõ thời gian anh Hà chết ngày nào? Di chúc của anh Hà lập khi nào? Có hợp pháp không? Phần tài sản chung theo phần của anh Hà và chị Lý là bao nhiêu? Cháu Minh, cháu Tiên có khả năng lao động hay không? bố mẹ anh Hà còn sống hay đã chết? Trong trường hợp này giả thiết anh Hà chết tháng 01 năm 2020, di chúc của anh Hà lập tháng 01 năm 2020 là hợp pháp và anh Hà định đoạt toàn bộ tài sản của anh Hà trong di chúc, phần tài sản chung theo phần của anh Hà và chị Lý mỗi người 50%, Cháu Minh, cháu Tiên có khả năng lao động, bố mẹ anh Hà đã chết trước anh Hà. Chị Oanh không từ chối nhận di sản và không thuộc trường hợp không có quyền hưởng di sản theo quy định tại Khoản 1 Điều 621 Bộ luật Dân sự 2015.

Anh Hà và chị Oanh kết hôn năm 1995 là vợ chồng hợp pháp. Anh Hà chung sống như vợ chồng với chị Lý, nên anh Hà và chị Lý không phải là vợ chồng. Do đó phần tài sản của anh Hà trong khối tài sản chung với chị Lý, là tài sản anh Hà tạo ra trong thời kỳ hôn nhân của anh Hà và chị Oanh. Theo quy định tại khoản 1 Điều 33 Luật hôn nhân và gia đình năm 2014, phần tài sản này là tài sản chung của anh Hà và chị Oanh. Như vậy, giá trị tài sản chung của anh Hà, chị Oanh là: 880.000.000đ +(2.500.000.000đ : 2) = 2.130.000.000đ. Di sản của anh Hà để lại là phần tài sản của anh Hà có được sau khi đã trừ các chi phí (tiền mai táng phí) theo quy định tại Điều 658 Bộ luật Dân sự 2015 là: (2.130.000.000đ : 2) - 120.000.000đ = 945.000.000đ.

Di chúc của anh Hà lập tháng 01 năm 2018, để lại di sản cho chị Lý và cháu Cường. Tuy nhiên, khi anh Hà lập di chúc và anh Hà chết, cháu Tiên sinh năm 2002, theo quy định tại khoản 1 Điều 21 Bộ luật Dân sự năm 2015, cháu Tiên là người chưa thành niên. Theo quy định tại khoản 1 Điều 644 Bộ luật Dân sự năm 2015 chị Oanh và cháu Tiên sẽ được hưởng di sản không phụ thuộc vào nội dung di chúc. Do đó, chị Oanh và cháu Tiên sẽ được hưởng 2/3 của suất thừa kế nếu chia theo luật.

Hàng thừa kế của anh Hà là chị Oanh, cháu Minh, cháu Tiên và cháu Cường. Di sản của anh Hà nếu chia theo luật, mỗi thừa kế sẽ được hưởng là 945.000.000đ : 4 = 236.250.000đ. Chị Oanh và cháu Tiên mỗi người sẽ được hưởng là: 236.250.000đ x 2/3 = 157.500.000đ. Di sản của anh Hà còn lại để chia theo di chúc là: 945.000.000₫ – (157.500.000đ x 2) = 630.000.000đ. Chị Lý và cháu Cường mỗi người sẽ được hưởng di sản theo di chúc là: 630.000.000đ : 2 = 315.000.000đ.

Như Quỳnh

Đỗ Như Quỳnh

Luật Sư Việt Nam

Bình luận