📞 Hotline: 0989919161✉️ Email: [email protected]
Giải đáp pháp luật

Khi nào được bổ sung thông tin về người vào giấy khai sinh cho con?

Cách đây ba năm chị H có sinh một bé trai, nhưng tại thời điểm đó do hiểu lầm với chị H nên anh T (cha của cháu bé) đã bỏ đi. Do chị H và anh T chưa đăng ký kết hôn với nhau nên khi cháu bé được...

để trống thông tin về người cha. Sau một thời gian, biết mình đã hiểu lầm nên anh T đã quay về hàn gắn với chị H, hai người đã làm thủ tục đăng ký kết hôn. Tuy nhiên, anh T (cha của bé trai) muốn bổ sung thông tin về người cha vào giấy khai sinh của con thì có phải thực hiện thủ tục nhận cha, con hay không?

Trả lời:

- Khoản 6 Điều 4 Luật Hộ tịch 2014 như sau: Giấy khai sinh là văn bản do cơ quan nhà nước có thẩm quyền cấp cho cá nhân khi được đăng ký khai sinh….”.

- Điều 13 Luật Hộ tịch năm 2014 : “Ủy ban nhân dân cấp xã nơi cư trú của người cha hoặc người mẹ thực hiện đăng ký khai sinh.

- Khoản 1 Điều 11 Luật Cư trú năm 2020 quy định: Nơi cư trú của công dân bao gồm nơi thường trú, nơi tạm trú”.

- Điều 16 Luật Hộ tịch quy định thủ tục đăng ký khai sinh như sau:

“1. Người đi đăng ký khai sinh nộp tờ khai theo mẫu quy định và giấy chứng sinh cho cơ quan đăng ký hộ tịch. Trường hợp không có giấy chứng sinh thì nộp văn bản của người làm chứng xác nhận về việc sinh; nếu không có người làm chứng thì phải có giấy cam đoan về việc sinh; trường hợp khai sinh cho trẻ em bị bỏ rơi phải có biên bản xác nhận việc trẻ bị bỏ rơi do cơ quan có thẩm quyền lập; trường hợp khai sinh cho trẻ em sinh ra do mang thai hộ phải có văn bản chứng minh việc mang thai hộ theo quy định pháp luật.

2. Ngay sau khi nhận đủ giấy tờ theo quy định tại khoản 1 Điều này, nếu thấy thông tin khai sinh đầy đủ và phù hợp, công chức tư pháp - hộ tịch ghi nội dung khai sinh theo quy định tại khoản 1 Điều 14 của Luật này vào Sổ hộ tịch; cập nhật vào Cơ sở dữ liệu hộ tịch điện tử, Cơ sở dữ liệu quốc gia về dân cư để lấy Số định danh cá nhân.

Công chức tư pháp - hộ tịch và người đi đăng ký khai sinh cùng ký tên vào Sổ hộ tịch. Chủ tịch Ủy ban nhân dân cấp xã cấp Giấy khai sinh cho người được đăng ký khai sinh”.

- Điều 15 Nghị định số 123/2015/NĐ-CP ngày 15/11/2015 của Chính phủ quy định chi tiết một số điều và biện pháp thi hành Luật Hộ tịch quy định về việc đăng ký khai sinh cho trẻ chưa xác định được cha, mẹ như sau:

1. Ủy ban nhân dân cấp xã nơi trẻ đang cư trú có trách nhiệm đăng ký khai sinh cho trẻ chưa xác định được cha, mẹ.

2. Trường hợp chưa xác định được cha thì khi đăng ký khai sinh họ, dân tộc, quê quán, quốc tịch của con được xác định theo họ, dân tộc, quê quán, quốc tịch của mẹ; phần ghi về cha trong Sổ hộ tịch và Giấy khai sinh của trẻ để trống.

- Khoản 2 Điều 16 Thông tư số 04/2020/TT-BTP ngày 28/5/2020 của Bộ trưởng Bộ Tư pháp quy định chi tiết một số điều của Luật Hộ tịch và Nghị định số 123/2015/NĐ-CP ngày 15/11/2015 của Chính phủ quy định chi tiết một số điều và biện pháp thi hành Luật Hộ tịch: “Trường hợp con do người vợ sinh ra trước thời điểm đăng ký kết hôn, đã được đăng ký khai sinh nhưng không có thông tin về người cha, nay vợ chồng có văn bản thừa nhận là con chung thì không phải làm thủ tục nhận cha, con mà làm thủ tục bổ sung hộ tịch để ghi bổ sung thông tin về người cha trong Sổ đăng ký khai sinh Giấy khai sinh của người con”.

Đối chiếu với quy định của pháp luật thì chị H đã sinh một bé trai khi chưa đăng ký kết hôn nên khi đi đăng ký khai sinh cho cháu bé thì phần khai về người cha trong giấy khai sinh của con chị để trống. Nay, chị H và anh T đã quay lại hàn gắn và đã làm thủ tục đăng ký kết hôn với nhau do đó chị H và anh T chỉ cần làm văn bản thừa nhận cháu bé nêu trên là con chung thì không phải làm thủ tục nhận cha, con mà làm thủ tục bổ sung hộ tịch để ghi bổ sung thông tin về người cha trong Sổ đăng ký khai sinh Giấy khai sinh của cháu bé.

Như Quỳnh

Đỗ Như Quỳnh

Luật Sư Việt Nam

Bình luận