Khi nào thì được chia di sản thừa kế theo pháp luật?
Năm 1994, ông T và bà M có lập di chúc chung vợ chồng để lại tài sản chung là một ngôi nhà cho con trai và con dâu theo quy định của Pháp lệnh về thừa kế 1990. Di chúc được công chứng tại Phòng...
Đến năm 1995, ông T chết, bà M không bổ sung nội dung gì vào di chúc đã lập, đến năm 2016 thì bà M chết. Năm 2023, con trai và con dâu mới tiến hành thủ tục cấp giấy chứng nhận đối với nhà và quyền sử dụng đất (đại diện thừa kế là con trai ông T và bà M). Xin hỏi di chúc trước đây do ông T bà M lập có được áp dụng đối với quyền sử dụng đất (mới được công nhận và cấp giấy chứng nhận) để mở thừa kế theo di chúc? Thứ hai là đối với phần di sản của ông T thì bà M được hưởng một phần (là vợ được hưởng thừa kế không phụ thuộc vào nội dung của di chúc) vào thời điểm ông T chết (theo Pháp lệnh thừa kế 1990 phần di chúc này đã có hiệu lực pháp luật), nhưng bà M không bổ sung ý chí quyết định đối với phần này trong di sản đã lập thì phần này con trai và con dâu có được hưởng không, hay phải thực hiện chia thừa kế theo pháp lệnh?
Trả lời
- Điều 667 Bộ Luật Dân sự 2005 quy định hiệu lực pháp luật của di chúc như sau :
« 1. Di chúc có hiệu lực pháp luật từ thời điểm mở thừa kế.
2. Di chúc không có hiệu lực pháp luật toàn bộ hoặc một phần trong các trường hợp sau đây:
a) Người thừa kế theo di chúc chết trước hoặc chết cùng thời điểm với người lập di chúc;
b) Cơ quan, tổ chức được chỉ định là người thừa kế không còn vào thời điểm mở thừa kế.
Trong trường hợp có nhiều người thừa kế theo di chúc mà có người chết trước hoặc chết cùng thời điểm với người lập di chúc, một trong nhiều cơ quan, tổ chức được chỉ định hưởng thừa kế theo di chúc không còn vào thời điểm mở thừa kế thì chỉ phần di chúc có liên quan đến cá nhân, cơ quan, tổ chức này không có hiệu lực pháp luật.
3. Di chúc không có hiệu lực pháp luật, nếu di sản để lại cho người thừa kế không còn vào thời điểm mở thừa kế; nếu di sản để lại cho người thừa kế chỉ còn một phần thì phần di chúc về phần di sản còn lại vẫn có hiệu lực.
4. Khi di chúc có phần không hợp pháp mà không ảnh hưởng đến hiệu lực của các phần còn lại thì chỉ phần đó không có hiệu lực pháp luật.
5. Khi một người để lại nhiều bản di chúc đối với một tài sản thì chỉ bản di chúc sau cùng có hiệu lực pháp luật.
- Điều 668 Bộ Luật Dân sự 2005 quy định hiệu lực pháp luật của di chúc chung của vợ, chồng: Di chúc chung của vợ, chồng có hiệu lực từ thời điểm người sau cùng chết hoặc tại thời điểm vợ, chồng cùng chết.
- Điều 612 Bộ luật Dân sự năm 2015 quy định "Di sản bao gồm tài sản riêng của người chết, phần tài sản của người chết trong tài sản chung với người khác."
- Điều 624 Bộ luật Dân sự năm 2015 quy định về di chúc như sau: “Di chúc là sự thể hiện ý chí của cá nhân nhằm chuyển tài sản của mình cho người khác sau khi chết”.
- Điểm a Mục 1 Nghị quyết số 02/2004/NQ- HĐTP ngày 10/8/2004 của Hội đồng Thẩm phán Toà án nhân dân tối cao về hướng dẫn áp dụng một số quy định của pháp lệnh thừa kế quy định: Đất đai thuộc quyền sở hữu toàn dân, quyền sử dụng đất được giao không phải là quyền sở hữu về tài sản của công dân nên không thể trở thành di sản khi công dân chết. Các tranh chấp về di sản có liên quan đến quyền sử dụng đất được giải quyết theo quy định của Luật Đất đai và các văn bản hướng dẫn thi hành Luật Đất đai
Như vậy, năm 1994, vợ chồng ông T và bà M lập di chúc chung để lại tài sản chung là một ngôi nhà cho vợ chồng con trai của ông bà. Di chúc được lập tại Phòng công chứng nhà nước nên xác định là di chúc hợp pháp.
- Theo Pháp lệnh Thừa kế năm 1990 và Nghị quyết số 02/2004/NQ- HĐTP ngày 10/8/2004 của Hội đồng Thẩm phán Toà án nhân dân tối cao về hướng dẫn áp dụng pháp luật trong việc giải quyết các vụ án dân sự, hôn nhân, gia đình thì quyền sử dụng đất không phải là quyền sở hữu tài sản của công dân nên không phải là di sản. Như vậy, chỉ xác định được ngôi nhà là di sản của ông T, bà M để lại. Năm 1995, ông T chết, năm 2016 là bà M chết. Theo Điều 668 Bộ luật Dân sự năm 2005 thì di chúc chung của vợ chồng ông T, bà M có hiệu lực từ thời điểm bà M chết (thời điểm người sau cùng chết). Vì vậy, từ thời điểm bà M chết, con trai và con dâu ông T, bà M được quyền sở hữu ngôi nhà theo di chúc chung của ông T, bà M.
Đối với quyền sử dụng đất, do không được định đoạt trong di chúc nên không thể căn cứ vào di chúc của ông T, bà M để xác lập quyền sử dụng hợp pháp cho vợ chồng con trai ông, bà. Quyền sử dụng đất này sẽ là di sản của ông T, bà M nếu thuộc các trường hợp quy định tại mục I, phần II Nghị quyết số 02/2004/NQ-HĐTP ngày 10/8/2004 của Hội đồng Thẩm phán Toà án nhân dân tối cao về hướng dẫn áp dụng pháp luật trong việc giải quyết các vụ án dân sự, hôn nhân và gia đình.
- Quy định về người thừa kế không phụ thuộc vào nội dung di chúc được áp dụng trong trường hợp người có tài sản lập di chúc định đoạt tài sản của mình nhưng không cho những người này được hưởng di sản hoặc cho ít hơn phần tài sản pháp luật quy định. Trong trường hợp này, ông T không lập di chúc riêng và vợ chồng ông T, bà M đã lập di chúc chung. Trước khi di chúc chung có hiệu lực (vào năm 2016) thì cả ông T và bà M đều không sửa đổi, bổ sung, thay thế, huỷ bỏ di chúc này nên không xác định bà M là người được hưởng một phần di sản của ông T khi ông T chết. Những tài sản của ông T, bà M không được định đoạt trong di chúc chung sẽ được xem xét để chia thừa kế theo pháp luật khi có yêu cầu.
Như Quỳnh
Đỗ Như Quỳnh