📞 Hotline: 0989919161✉️ Email: [email protected]
Giải đáp pháp luật

Khai sinh cho con sau thời điểm hôn nhân chấm dứt

Khai sinh cho con sau thời điểm hôn nhân chấm dứt

Chị bạn tôi đang gặp một vấn đề nhờ tôi hỏi tư vấn như sau:

Cách đây 9 tháng chồng chị ốm đột ngột và mất. Vì trước đó vợ chồng đã có mâu thuẫn trầm trọng, chị cũng không được gia đình nhà chồng ủng hộ, nên ngay sau ngày lo tang lễ cho anh, chị chuyển ra Bắc, về nhà bố mẹ đẻ sinh sống. Cùng thời điểm đó, chị phát hiện mình có thai.

Vậy con chị sinh ra có đương nhiên được khai sinh và lấy Họ của bố là chồng chị đã mất hay không? Được biết, chị đã báo tin này cho gia đình nhà chồng, nhưng họ yêu cầu phải có kết quả xét nghiệm ADN chính xác thì mới đồng ý cho cháu mang họ của Bố.

Trả lời

Theo khoản 13 Điều 3 Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014, “thời kỳ hôn nhân là khoảng thời gian tồn tại quan hệ vợ chồng, được tính từ ngày đăng ký kết hôn đến ngày chấm dứt hôn nhân”. Điều 65 của Luật này quy định: “Hôn nhân chấm dứt kể từ thời điểm vợ hoặc chồng chết.

Trong trường hợp Tòa án tuyên bố vợ hoặc chồng là đã chết thì thời điểm hôn nhân chấm dứt được xác định theo ngày chết được ghi trong bản án, quyết định của Tòa án”.

Có nghĩa là, quan hệ hôn nhân giữa vợ chồng chị bạn của bạn đã chấm dứt kể từ khi anh chồng chết. Tuy nhiên, việc xác định cha mẹ cho con được quy định tại Điều 88 của Luật này như sau:

“1. Con sinh ra trong thời kỳ hôn nhân hoặc do người vợ có thai trong thời kỳ hôn nhân là con chung của vợ chồng.

Con được sinh ra trong thời hạn 300 ngày kể từ thời điểm chấm dứt hôn nhân được coi là con do người vợ có thai trong thời kỳ hôn nhân.

Con sinh ra trước ngày đăng ký kết hôn và được cha mẹ thừa nhận là con chung của vợ chồng.

2. Trong trường hợp cha, mẹ không thừa nhận con thì phải có chứng cứ và phải được Tòa án xác định”.

Tóm lại, mặc dù không được sinh ra trong thời kỳ hôn nhân của bố mẹ, nhưng nếu cháu bé được sinh ra trong thời hạn 300 ngày kể từ thời điểm bố cháu mất được coi là con do mẹ cháu có thai trong thời kỳ hôn nhân với bố của cháu. Cho nên, đó chính là con chung của hai vợ chồng họ.

Về nguyên tắc, mẹ của cháu chỉ cần chứng minh việc mang thai cháu trong thời hạn này. Ví dụ, bằng các giấy tờ như giấy chứng tử của chồng và giấy chứng sinh của con…

Trên thực tế khi phát sinh tranh chấp như việc không thừa nhận con, các bên thỏa thuận hoặc một bên cũng có thể lựa chọn sử dụng kết quả y khoa, giám định ADN để làm bằng chứng chứng minh và đề nghị Tòa án xác định.

Cháu là con của hai người thì việc khai sinh cho con mang Họ của bố là đương nhiên. Chị ấy có thể làm thủ tục này tại Ủy ban nhân dân cấp xã nơi cư trú của bố cháu hoặc của mình. Nội dung đăng ký khai sinh được quy định tại khoản 1 Điều 14 Luật Hộ tịch năm 2014 gồm:

“a) Thông tin của người được đăng ký khai sinh: Họ, chữ đệm và tên; giới tính; ngày, tháng, năm sinh; nơi sinh; quê quán; dân tộc; quốc tịch;

b) Thông tin của cha, mẹ người được đăng ký khai sinh: Họ, chữ đệm và tên; năm sinh; dân tộc; quốc tịch; nơi cư trú;

c) Số định danh cá nhân của người được đăng ký khai sinh”.

Theo khoản 1 Điều 16 của Luật này, với tư cách người đi đăng ký khai sinh cho con, chị ấy “nộp tờ khai theo mẫu quy định và giấy chứng sinh cho cơ quan đăng ký hộ tịch. Trường hợp không có giấy chứng sinh thì nộp văn bản của người làm chứng xác nhận về việc sinh; nếu không có người làm chứng thì phải có giấy cam đoan về việc sinh”.

Admin PBGDPL

Xem thêm

Luật Sư Việt Nam

Bình luận