Điều kiện đối với người nhận nuôi con nuôi
Gia đình hàng xóm nhà tôi có một cô con gái, chưa lấy chồng nhưng đã có một con 2 tuổi. Qua mai mối, cô con gái chuẩn bị kết hôn với một người nước ngoài và sẽ theo chồng đi định cư. Vấn đề...
Gia đình hàng xóm nhà tôi có một cô con gái, chưa lấy chồng nhưng đã có một con 2 tuổi.
Qua mai mối, cô con gái chuẩn bị kết hôn với một người nước ngoài và sẽ theo chồng đi định cư.
Vấn đề là gia đình hàng xóm giấu không cho chàng rể biết chuyện cô gái đã có con. Đồng thời, cũng không muốn cháu mình thiếu thốn tình cảm bố mẹ nên dự định chính họ hoặc để chị gái của mẹ cháu (đang sống ở Đà Nẵng) nhận cháu làm con nuôi.
Xin hỏi: Những người ruột thịt này có được nhận cháu làm con nuôi hay không? Nếu được thì điều kiện cụ thể như thế nào?
Trả lời
Khoản 1 Điều 3 Luật Nuôi con nuôi năm 2010 quy định: “Nuôi con nuôi là việc xác lập quan hệ cha, mẹ và con giữa người nhận con nuôi và người được nhận làm con nuôi”.
Theo đó, cha mẹ nuôi là người nhận con nuôi sau khi việc nuôi con nuôi được cơ quan nhà nước có thẩm quyền đăng ký. Con nuôi là người được nhận làm con nuôi sau khi việc nuôi con nuôi được cơ quan nhà nước có thẩm quyền đăng ký.
Điều 4 của Luật này quy định nguyên tắc giải quyết việc nuôi con nuôi như sau:
“1. Khi giải quyết việc nuôi con nuôi, cần tôn trọng quyền của trẻ em được sống trong môi trường gia đình gốc.
2. Việc nuôi con nuôi phải bảo đảm quyền, lợi ích hợp pháp của người được nhận làm con nuôi và người nhận con nuôi, tự nguyện, bình đẳng, không phân biệt nam nữ, không trái pháp luật và đạo đức xã hội.
3. Chỉ cho làm con nuôi người ở nước ngoài khi không thể tìm được gia đình thay thế ở trong nước”.
Vợ chồng gia đình hàng xóm nhà bạn, chính là ông bà của cháu không được phép nhận cháu làm con nuôi. Bởi vì, đó là một trong những hành vi bị nghiêm cấm được quy định tại Điều 13 của Luật này. Cụ thể:
“1. Lợi dụng việc nuôi con nuôi để trục lợi, bóc lột sức lao động, xâm hại tình dục; bắt cóc, mua bán trẻ em.
2. Giả mạo giấy tờ để giải quyết việc nuôi con nuôi.
3. Phân biệt đối xử giữa con đẻ và con nuôi.
4. Lợi dụng việc cho con nuôi để vi phạm pháp luật về dân số.
5. Lợi dụng việc làm con nuôi của thương binh, người có công với cách mạng, người thuộc dân tộc thiểu số để hưởng chế độ, chính sách ưu đãi của Nhà nước.
6. Ông, bà nhận cháu làm con nuôi hoặc anh, chị, em nhận nhau làm con nuôi.
7. Lợi dụng việc nuôi con nuôi để vi phạm pháp luật, phong tục tập quán, đạo đức, truyền thống văn hóa tốt đẹp của dân tộc”.
Chị gái của mẹ cháu bé có thể nhận cháu làm con nuôi nếu đáp ứng đủ các điều kiện quy định tại khoản 1 Điều 14 của Luật này, bao gồm:
“a) Có năng lực hành vi dân sự đầy đủ;
b) Hơn con nuôi từ 20 tuổi trở lên;
c) Có điều kiện về sức khỏe, kinh tế, chỗ ở bảo đảm việc chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục con nuôi;
d) Có tư cách đạo đức tốt”.
Thêm nữa, người này còn không thuộc các trường hợp không được nhận con nuôi theo quy định tại khoản 2 của Điều này. Đó là:
“a) Đang bị hạn chế một số quyền của cha, mẹ đối với con chưa thành niên;
b) Đang chấp hành quyết định xử lý hành chính tại cơ sở giáo dục, cơ sở chữa bệnh;
c) Đang chấp hành hình phạt tù;
d) Chưa được xóa án tích về một trong các tội cố ý xâm phạm tính mạng, sức khỏe, nhân phẩm, danh dự của người khác; ngược đãi hoặc hành hạ ông bà, cha mẹ, vợ chồng, con, cháu, người có công nuôi dưỡng mình; dụ dỗ, ép buộc hoặc chứa chấp người chưa thanh niên vi phạm pháp luật; mua bán, đánh tráo, chiếm đoạt trẻ em”.
Nếu đáp ứng các điều kiện nêu trên, chị gái của mẹ cháu cần chuẩn bị 01 bộ hồ sơ gồm Đơn xin nhận con nuôi; Bản sao Hộ chiếu, Giấy chứng minh nhân dân hoặc giấy tờ có giá trị thay thế; Phiếu lý lịch tư pháp; Văn bản xác nhận tình trạng hôn nhân; Giấy khám sức khỏe do cơ quan y tế cấp huyện trở lên cấp; văn bản xác nhận hoàn cảnh gia đình, tình trạng chỗ ở, điều kiện kinh tế do Ủy ban nhân dân cấp xã nơi người nhận con nuôi thường trú cấp.
Thông tin của bạn cho thấy, có thể chị gái ủa mẹ cháu và cháu bé không cùng thường trú tại một địa bàn xã, thì việc xác nhận về hoàn cảnh gia đình, tình trạng chỗ ở, điều kiện kinh tế của người nhận con nuôi được thực hiện theo hướng dẫn tại Điều 7 Nghị định số 19/2011/NĐ-CP ngày 21/3/2011 của Chính phủ như sau:
“1. Trường hợp người nhận con nuôi nộp hồ sơ đăng ký việc nuôi con nuôi tại Ủy ban nhân dân cấp xã nơi thường trú của người được nhận làm con nuôi, thì văn bản về hoàn cảnh gia đình, tình trạng chỗ ở, điều kiện kinh tế của người nhận con nuôi do Ủy ban nhân dân cấp xã, nơi người đó thường trú xác nhận.
2. Trường hợp người nhận con nuôi nộp hồ sơ đăng ký việc nuôi con nuôi tại Ủy ban nhân dân cấp xã nơi người đó thường trú, thì công chức tư pháp - hộ tịch xác minh hoàn cảnh gia đình, tình trạng chỗ ở, điều kiện kinh tế của người nhận con nuôi”.
Trên đây là quy định pháp luật liên quan đến câu hỏi của bạn về vấn đề điều kiện của người nhận nuôi con nuôi. Về nguyên tắc, chị gái của mẹ cháu bé có thể nhận cháu làm con nuôi khi đáp ứng các điều kiện theo quy định của pháp luật. Tuy nhiên, cũng cần căn cứ vào hoàn cảnh thực tế, điều kiện chăm sóc cho cháu bé một cách tốt nhất và tính đến quan hệ tình cảm gia đình, đặc biệt là giữa mẹ và con. Vì thế, gia đình của mẹ cháu bé nên cân nhắc trong việc tách cháu bé khỏi mẹ cháu để cho làm con nuôi người khác, dù đó là bác ruột của cháu.
Admin PBGDPL