Điều kiện có hiệu lực của Di chúc bằng văn bản
Ông nội tội mất cách đây 2 năm, căn nhà được biết từ trước đến nay thuộc sở hữu của ông vẫn do chú út ở cùng ông sử dụng, và tất cả anh chị em đều không có ý kiến gì. Lý do, đây là nơi ông ở khi...
Ông nội tội mất cách đây 2 năm, căn nhà được biết từ trước đến nay thuộc sở hữu của ông vẫn do chú út ở cùng ông sử dụng, và tất cả anh chị em đều không có ý kiến gì. Lý do, đây là nơi ông ở khi còn sống, và sẽ là nơi thờ cúng gia tiên chung.
Tuy nhiên, mới đây chú út có đưa ra một tờ giấy nội dung đại ý ghi nhận là ông di chúc cho chú. Đồng thời chú thông báo sẽ bán căn nhà để chuyển đi nơi khác (Việc mua bán căn nhà đã xong thủ tục đặt cọc). Xin hỏi, văn bản di chúc có bắt buộc phải có người làm chứng hoặc công chứng, chứng thực mới có hiệu lực hay không? Trả lời Di chúc là sự thể hiện ý chí của cá nhân nhằm chuyển tài sản của mình cho người khác sau khi chết. Người lập di chúc có quyền chỉ định người thừa kế; truất quyền hưởng di sản của người thừa kế; phân định phần di sản cho từng người thừa kế; dành một phần tài sản trong khối di sản để di tặng, thờ cúng; giao nghĩa vụ cho người thừa kế; chỉ định người giữ di chúc, người quản lý di sản, người phân chia di sản. Theo Điều 627 Bộ luật Dân sự năm 2015, “Di chúc phải được lập thành văn bản; nếu không thể lập được di chúc bằng văn bản thì có thể di chúc miệng”. Như vậy, hình thức của di chúc có thể là di chúc miệng trong trường hợp không thể lập được di chúc bang văn bản. Với hình thức như thế nào thì di chúc phải đáp ứng điều kiện theo quy định của pháp luật. Điều 628 Bộ luật này quy định di chúc bằng văn bản bao gồm: “1. Di chúc bằng văn bản không có người làm chứng. 2. Di chúc bằng văn bản có người làm chứng. 3. Di chúc bằng văn bản có công chứng. 4. Di chúc bằng văn bản có chứng thực”. Thông tin của bạn cho thấy, ông nội bạn để lại di chúc bằng văn bản. Văn bản di chúc này có hiệu lực khi đáp ứng các điều kiện tương ứng theo quy định của pháp luật Dân sự. Cụ thể: Đối với Di chúc bằng văn bản không có người làm chứng, theo Điều 633 của Bộ luật này, “Người lập di chúc phải tự viết và ký vào bản di chúc. Việc lập di chúc bằng văn bản không có người làm chứng phải tuân theo quy định tại Điều 631 của Bộ luật này”. Điều 631 quy định di chúc gồm các nội dung chủ yếu sau: Ngày, tháng, năm lập di chúc; Họ, tên và nơi cư trú của người lập di chúc; Họ, tên người, cơ quan, tổ chức được hưởng di sản; Di sản để lại và nơi có di sản… Di chúc không được viết tắt hoặc viết bằng ký hiệu, nếu di chúc gồm nhiều trang thì mỗi trang phải được ghi số thứ tự và có chữ ký hoặc điểm chỉ của người lập di chúc. Trường hợp di chúc có sự tẩy xóa, sửa chữa thì người tự viết di chúc hoặc người làm chứng di chúc phải ký tên bên cạnh chỗ tẩy xóa, sửa chữa. Có nghĩa là, nếu Di chúc bằng văn bản không có người làm chứng thì người để lại di sản phải tự viết và ký vào di chúc, với các nội dung chủ yếu của di chúc như trên. Đối với Di chúc bằng văn bản có người làm chứng, Điều 634 của Bộ luật này quy định: “Trường hợp người lập di chúc không tự mình viết bản di chúc thì có thể tự mình đánh máy hoặc nhờ người khác viết hoặc đánh máy bản di chúc, nhưng phải có ít nhất là hai người làm chứng. Người lập di chúc phải ký hoặc điểm chỉ vào bản di chúc trước mặt những người làm chứng; những người làm chứng xác nhận chữ ký, điểm chỉ của người lập di chúc và ký vào bản di chúc. Việc lập di chúc bằng văn bản có người làm chứng phải tuân theo quy định tại Điều 631 và Điều 632 của Bộ luật này”. Khác với Di chúc bằng văn bản không có người làm chứng là người để lại di sản phải trực tiếp viết, ký tên thì Di chúc bằng văn bản có người làm chứng là văn bản đánh máy hoặc do người khác viết hộ người để lại di chúc. Trong trường hợp này, yêu cầu có ít nhất hai người làm chứng cùng ký tên, xác nhận chữ ký, điểm chỉ của người lập di chúc. Theo Điều Điều 632 của Bộ luật này, mọi người đều có thể làm chứng cho việc lập di chúc, trừ những người sau đây: “1. Người thừa kế theo di chúc hoặc theo pháp luật của người lập di chúc. 2. Người có quyền, nghĩa vụ tài sản liên quan tới nội dung di chúc. 3. Người chưa thành niên, người mất năng lực hành vi dân sự, người có khó khăn trong nhận thức, làm chủ hành vi”. Người lập di chúc, theo Điều 635 của Bộ luật này, “có thể yêu cầu công chứng hoặc chứng thực bản di chúc”. Có nghĩa là, di chúc không bắt buộc phải thực hiện thủ tục này. Trường hợp người để lại di sản lựa chọn yêu cầu công chứng hoặc chứng thực, thủ tục lập di chúc thực hiện tại tổ chức hành nghề công chứng hoặc Ủy ban nhân dân cấp xã. Người lập di chúc tuyên bố nội dung của di chúc trước công chứng viên hoặc người có thẩm quyền chứng thực của Ủy ban nhân dân cấp xã. Công chứng viên hoặc người có thẩm quyền chứng thực của Ủy ban nhân dân cấp xã phải ghi chép lại nội dung mà người lập di chúc đã tuyên bố. Người lập di chúc ký hoặc điểm chỉ vào bản di chúc sau khi xác nhận bản di chúc đã được ghi chép chính xác và thể hiện đúng ý chí của mình. Công chứng viên hoặc người có thẩm quyền chứng thực của Ủy ban nhân dân cấp xã ký vào bản di chúc. Trường hợp người lập di chúc không đọc được hoặc không nghe được bản di chúc, không ký hoặc không điểm chỉ được thì phải nhờ người làm chứng và người này phải ký xác nhận trước mặt công chứng viên hoặc người có thẩm quyền chứng thực của Ủy ban nhân dân cấp xã. Công chứng viên hoặc người có thẩm quyền chứng thực của Ủy ban nhân dân cấp xã chứng nhận bản di chúc trước mặt người lập di chúc và người làm chứng. Ngọc Đức
admin admin