📞 Hotline: 0989919161✉️ Email: [email protected]
Giải đáp pháp luật

Điều kiện đăng ký tham gia đấu giá biển số xe ô tô

Vợ chồng tôi có kế hoạch mu axe ô tô nhân dịp kỷ niệm 10 năm ngày cưới. Cũng vì lý do đó, vợ chồng tôi muốn tham gia đấu giá biển số có các chữ số trùng với ngày cưới.

Đề nghị các anh chị cho biết, để đăng lý và tham gia đấu giá cần đáp ứng những điều kiện gì? Vợ chồng tôi có thể tham gia đấu giá bằng cách nào? Nếu số tiền đấu giá lớn và không tham gia đến cùng thì có được nhận lại số tiền đặt cọc hay không?

Trả lời

Đấu giá tài sản là hình thức bán tài sản có từ hai người trở lên tham gia đấu giá theo nguyên tắc, trình tự và thủ tục được quy định của pháp luật.

Theo quy định của pháp luật về đấu giá tài sản, hình thức đấu giá gồm: Đấu giá trực tiếp bằng lời nói tại cuộc đấu giá; Đấu giá bằng bỏ phiếu trực tiếp tại cuộc đấu giá; Đấu giá bằng bỏ phiếu gián tiếp; Đấu giá trực tuyến. Phương thức đấu giá bao gồm: Phương thức trả giá lên; Phương thức đặt giá xuống.

Hình thức, phương thức, trình tự, thủ tục đấu giá biển số xe ô tô được quy định tại Điều 4 Nghị quyết số 73/2022/QH15 ngày 15/11/2022 của Quốc hội như sau:

“1. Hình thức đấu giá là đấu giá trực tuyến.

2. Phương thức đấu giá là phương thức trả giá lên.

3. Chính phủ quy định trình tự, thủ tục đấu giá biển số xe ô tô”.

Đấu giá biển số xe ô tô được thực hiện bằng hình thức trực tuyến trên môi trường mạng, phải tuân thủ quy định của pháp luật về đấu giá tài sản, an toàn an ninh mạng.

Điều kiện đăng ký tham gia đấu giá biển số xe ô tô, theo Điều 10 Nghị định số 39/2023/NĐ-CP ngày 26/6/2023 của Chính phủ bao gồm:

“1. Thuộc đối tượng tham gia đấu giá theo quy định tại khoản 1 Điều 3 Nghị định này và nộp tiền đặt trước cho tổ chức đấu giá tài sản theo quy định tại khoản 2 Điều 3 Nghị quyết số 73/2022/QH15.

2. Tổ chức, cá nhân đăng ký tham gia đấu giá tự chịu trách nhiệm về tính chính xác, tính trung thực việc kê khai thông tin để đăng ký tham gia đấu giá”.

Về đối tượng tham gia đấu giá, khoản 1 Điều 3 Nghị định này quy định: “Người tham gia đấu giá là tổ chức, cá nhân người Việt Nam có đủ điều kiện tham gia đấu giá biển số xe ô tô theo quy định của Nghị định này và quy định khác của pháp luật có liên quan”.

Điều 3 Nghị quyết số 73/2022/QH15 quy định giá khởi điểm, tiền đặt trước, bước giá, tiền thu được từ đấu giá biển số xe ô tô

“1. Giá khởi điểm của một biển số xe ô tô đưa ra đấu giá là 40.000.000 đồng.

2. Tiền đặt trước bằng giá khởi điểm của một biển số xe ô tô đưa ra đấu giá.

3. Bước giá là 5.000.000 đồng.

4. Số tiền thu được từ đấu giá biển số xe ô tô sau khi trừ các khoản chi phí tổ chức đấu giá được nộp vào ngân sách trung ương theo quy định của pháp luật về ngân sách nhà nước.

Chính phủ quy định cụ thể việc quản lý, sử dụng số tiền thu được từ đấu giá biển số xe ô tô”.

Như vậy, để đăng ký tham gia đấu giá biển số xe ô tô, tổ chức, cá nhân người Việt Nam có đủ điều kiện và nộp tiền đặt trước cho tổ chức đấu giá tài sản 40.000.000 đồng đối với một biển số xe ô tô đưa ra đấu giá.

Điều 12 Nghị định số 39/2023/NĐ-CP quy định về tiền đặt trước tham gia đấu giá như sau:

“1. Tiền đặt trước được gửi vào một tài khoản thanh toán riêng của tổ chức đấu giá tài sản mở tại ngân hàng kể từ khi đăng ký tham gia cho đến trước thời điểm tổ chức đấu giá 03 ngày. Trường hợp trúng đấu giá, tiền đặt trước được chuyển vào tài khoản chuyên thu của Bộ Công an để nộp vào ngân sách nhà nước theo quy định.

2. Việc xử lý tiền đặt trước trong các trường hợp cụ thể được thực hiện theo quy định tại Điều 39 Luật Đấu giá tài sản”.

Trường hợp trúng đấu giá thì khoản tiền đặt trước và tiền lãi (nếu có) được chuyển thành tiền đặt cọc để bảo đảm thực hiện giao kết hoặc thực hiện hợp đồng mua bán tài sản đấu giá hoặc thực hiện nghĩa vụ mua tài sản đấu giá sau khi được cơ quan có thẩm quyền phê duyệt. Việc xử lý tiền đặt cọc thực hiện theo quy định của pháp luật về dân sự và quy định khác của pháp luật có liên quan.

Trường hợp không trúng đấu giá, người đăng ký tham gia đấu giá được nhận lại số tiền đặt trước 40.000.000 đồng (đối với một biển số xe ô tô đưa ra đấu giá). Bởi vì, khoản 4 Điều 39 Luật Đấu giá tài sản năm 2016 quy định: “Tổ chức đấu giá tài sản có trách nhiệm trả lại khoản tiền đặt trước và thanh toán tiền lãi (nếu có) trong trường hợp người tham gia đấu giá không trúng đấu giá trong thời hạn 03 ngày làm việc kể từ ngày kết thúc cuộc đấu giá hoặc trong thời hạn khác do các bên thỏa thuận, trừ trường hợp quy định tại khoản 6 Điều này”.

Người tham gia đấu giá không được nhận lại tiền đặt trước trong các trường hợp như đã nộp tiền đặt trước nhưng không tham gia cuộc đấu giá, buổi công bố giá mà không thuộc trường hợp bất khả kháng; bị truất quyền tham gia đấu giá do có hành vi vi phạm; từ chối ký biên bản đấu giá; rút lại giá đã trả hoặc giá đã chấp nhận; từ chối kết quả trúng đấu giá theo quy định của pháp luật. Trong trường hợp này, thì tiền đặt trước được nộp vào ngân sách nhà nước theo quy định của pháp luật, sau khi trừ chi phí đấu giá tài sản.

Theo khoản 3 Điều này, “Người tham gia đấu giá có quyền từ chối tham gia cuộc đấu giá và được nhận lại tiền đặt trước trong trường hợp có thay đổi về giá khởi điểm, số lượng, chất lượng tài sản đã niêm yết, thông báo công khai; trường hợp khoản tiền đặt trước phát sinh lãi thì người tham gia đấu giá được nhận tiền lãi đó”.

Có nghĩa là, người đăng ký từ chối tham gia cuộc đấu giá chỉ được nhận lại tiền đặt trước trong trường hợp có thay đổi về giá khởi điểm, số lượng, chất lượng tài sản đã niêm yết, thông báo công khai.

Hùng Phi

Vũ Thị Thanh Tú

Xem thêm

Luật Sư Việt Nam

Bình luận