📞 Hotline: 0989919161✉️ Email: [email protected]
Giải đáp pháp luật

Hợp đồng xây dựng phải được lập bằng văn bản

Gia đình tôi chuẩn bị xây nhà cho con trai lấy vợ ra ở riêng. Tôi muốn biết, khi xây dựng nhà ở riêng lẻ và thuê một đơn vị thi công xây dựng trọn gói thì các bên có bắt buộc phải ký hợp đồng bằng...

Trả lời

Theo khoản 1 Điều 138 Luật Xây dựng năm 2014, “hợp đồng xây dựng là hợp đồng dân sự được thỏa thuận bằng văn bản giữa bên giao thầu và bên nhận thầu để thực hiện một phần hay toàn bộ công việc trong hoạt động đầu tư xây dựng”.

Như vậy, hợp đồng xây dựng giữa bên giao thầu và bên nhận thầu để thực hiện một phần hay toàn bộ công việc trong hoạt động đầu tư xây dựng là thỏa thuận dân sự và phải được lập thành văn bản.

Hợp đồng xây dựng được phân loại theo tính chất, nội dung công việc thực hiện và giá hợp đồng áp dụng. Phân loại theo tính tính chất, nội dung công việc có Hợp đồng thi công xây dựng công trình. Đồng thời, để hạn chế tối đa tranh chấp và có cơ sở giải quyết tranh chấp phát sinh, gia đình bạn và bên nhận xây dựng nhà ở cho gia đình bạn phải ký kết hợp đồng bằng văn bản.

Hợp đồng xây dựng gồm các nội dung được quy định tại khoản 1 Điều 141 của Luật này như sau:

“a) Căn cứ pháp lý áp dụng;

b) Ngôn ngữ áp dụng;

c) Nội dung và khối lượng công việc;

d) Chất lượng, yêu cầu kỹ thuật của công việc, nghiệm thu và bàn giao;

đ) Thời gian và tiến độ thực hiện hợp đồng;

e) Giá hợp đồng, tạm ứng, đồng tiền sử dụng trong thanh toán và thanh toán hợp đồng xây dựng;

g) Bảo đảm thực hiện hợp đồng, bảo lãnh tạm ứng hợp đồng;

h) Điều chỉnh hợp đồng xây dựng;

i) Quyền và nghĩa vụ của các bên tham gia hợp đồng xây dựng;

k) Trách nhiệm do vi phạm hợp đồng, thưởng và phạt vi phạm hợp đồng;

l) Tạm ngừng và chấm dứt hợp đồng xây dựng;

m) Giải quyết tranh chấp hợp đồng xây dựng;

n) Rủi ro và bất khả kháng;

o) Quyết toán và thanh lý hợp đồng xây dựng;

p) Các nội dung khác”.

Đối với hợp đồng tổng thầu xây dựng ngoài các nội dung quy định nêu trên còn phải được bổ sung về nội dung và trách nhiệm quản lý của tổng thầu xây dựng.

Cũng như hợp đồng dân sự khác, các bên ký kết hợp đồng xây dựng phải bảo đảm các nguyên tắc như tự nguyện, bình đẳng, hợp tác, không trái pháp luật và đạo đức xã hội; bảo đảm có đủ vốn để thanh toán theo thỏa thuận của hợp đồng; đã hoàn thành việc lựa chọn nhà thầu và kết thúc quá trình đàm phán hợp đồng; trường hợp bên nhận thầu là liên danh nhà thầu thì phải có thỏa thuận liên danh. Các thành viên trong liên danh phải ký tên, đóng dấu (nếu có) vào hợp đồng xây dựng, trừ trường hợp các bên có thỏa thuận khác.

Việc thực hiện hợp đồng xây dựng phải đảm bảo nguyên tắc được quy định tại khoản 3 Điều 138 của Luật này. Đó là:

“a) Các bên hợp đồng phải thực hiện đúng các cam kết trong hợp đồng về phạm vi công việc, yêu cầu chất lượng, số lượng, chủng loại, thời hạn, phương thức và các thỏa thuận khác;

b) Trung thực, hợp tác và đúng pháp luật;

c) Không xâm phạm đến lợi ích của Nhà nước, cộng đồng và lợi ích hợp pháp của tổ chức, cá nhân khác”.

Đảm bảo yêu cầu về nội dung và hình thức bàng văn bản, theo khoản 1 Điều 139 của Luật này, hợp đồng xây dựng có hiệu lực khi đáp ứng đủ các điều kiện sau:

“a) Người ký kết hợp đồng phải có đủ năng lực hành vi dân sự, đúng thẩm quyền theo quy định của pháp luật;

b) Bảo đảm các nguyên tắc ký kết hợp đồng xây dựng quy định tại điểm a khoản 2 Điều 138 của Luật này;

c) Bên nhận thầu phải có đủ điều kiện năng lực hoạt động, năng lực hành nghề xây dựng theo quy định của Luật này”.

Thu Lý

Vũ Thị Thanh Tú

Xem thêm

Luật Sư Việt Nam

Bình luận