📞 Hotline: 0989919161✉️ Email: [email protected]
Giải đáp pháp luật

Hợp đồng cho mượn nhà ở có cần công chứng hay không?

Tôi có một căn nhà chưa sử dụng, nên có người đề nghị được thuê trong thời gian họ xây nhà. Tuy nhiên, vì là hàng xóm láng giềng với nhau, thời gian không lâu nên vợ chồng tôi thống nhất cho họ mượn.

Tôi có một căn nhà chưa sử dụng, nên có người đề nghị được thuê trong thời gian họ xây nhà. Tuy nhiên, vì là hàng xóm láng giềng với nhau, thời gian không lâu nên vợ chồng tôi thống nhất cho họ mượn.

Xin hỏi các anh chị:

- Giấy tờ cho mượn nhà có phải công chứng hay chứng thực không?

- Trường hợp vì lý do nào đó mà vợ chồng tôi muốn lấy lại trước khi họ xây xong nhà thì có vướng mắc gì không?

Trả lời

Theo Điều 494 Bộ luật Dân sự năm 2015, “Hợp đồng mượn tài sản là sự thỏa thuận giữa các bên, theo đó bên cho mượn giao tài sản cho bên mượn để sử dụng trong một thời hạn mà không phải trả tiền, bên mượn phải trả lại tài sản đó khi hết thời hạn mượn hoặc mục đích mượn đã đạt được”.

Hợp đồng cho mượn nhà ở là một trong những loại hợp đồng mượn tài sản. Trong đó:

- Các bên thỏa thuận cho mượn nhà ở;

- Bên mượn nhà ở được sử dụng trong một thời hạn nhất định, không phải trả tiền;

- Bên mượn phải trả lại nhà ở đó khi hết thời hạn mượn hoặc mục đích mượn đã đạt được.

Thời hạn cho mượn nhà ở do vợ chồng bạn và người hàng xóm thỏa thuận. Với tư cách bên cho mượn, vợ chồng bạn có các quyền được quy định tại Điều 499 của Bộ luật này. Bao gồm:

“1. Đòi lại tài sản ngay sau khi bên mượn đạt được mục đích nếu không có thỏa thuận về thời hạn mượn; nếu bên cho mượn có nhu cầu đột xuất và cấp bách cần sử dụng tài sản cho mượn thì được đòi lại tài sản đó mặc dù bên mượn chưa đạt được mục đích, nhưng phải báo trước một thời gian hợp lý.

2. Đòi lại tài sản khi bên mượn sử dụng không đúng mục đích, công dụng, không đúng cách thức đã thỏa thuận hoặc cho người khác mượn lại mà không có sự đồng ý của bên cho mượn.

3. Yêu cầu bồi thường thiệt hại đối với tài sản do bên mượn gây ra”.

Có nghĩa là, vợ chồng bạn có quyền đòi lại nhà ở đã cho người hàng xóm mượn trước thời gian do hai bên thỏa thuận, ngay cả khi thời hạn cho mượn chưa hết hay người hàng xóm chưa xây xong nhà, nhưng vợ chồng bạn phải báo trước cho họ trong một khoảng thời gian hợp lý.

Giao dịch dân sự được thể hiện bằng lời nói, bằng văn bản hoặc bằng hành vi cụ thể. Trường hợp luật quy định giao dịch dân sự phải được thể hiện bằng văn bản có công chứng, chứng thực, đăng ký thì phải tuân theo quy định đó.

Công chứng là việc công chứng viên của một tổ chức hành nghề công chứng chứng nhận tính xác thực, hợp pháp của hợp đồng, giao dịch dân sự khác bằng văn bản (sau đây gọi là hợp đồng, giao dịch), tính chính xác, hợp pháp, không trái đạo đức xã hội của bản dịch giấy tờ, văn bản từ tiếng Việt sang tiếng nước ngoài hoặc từ tiếng nước ngoài sang tiếng Việt (sau đây gọi là bản dịch) mà theo quy định của pháp luật phải công chứng hoặc cá nhân, tổ chức tự nguyện yêu cầu công chứng.

Điều 122 Luật Công chứng năm 2014 quy định về công chứng, chứng thực hợp đồng và thời điểm có hiệu lực của hợp đồng về nhà ở như sau:

“1. Trường hợp mua bán, tặng cho, đổi, góp vốn, thế chấp nhà ở, chuyển nhượng hợp đồng mua bán nhà ở thương mại thì phải thực hiện công chứng, chứng thực hợp đồng, trừ trường hợp quy định tại khoản 2 Điều này.

Đối với các giao dịch quy định tại khoản này thì thời điểm có hiệu lực của hợp đồng là thời điểm công chứng, chứng thực hợp đồng.

2. Đối với trường hợp tổ chức tặng cho nhà tình nghĩa, nhà tình thương; mua bán, cho thuê mua nhà ở thuộc sở hữu nhà nước; mua bán, cho thuê mua nhà ở xã hội, nhà ở phục vụ tái định cư; góp vốn bằng nhà ở mà có một bên là tổ chức; cho thuê, cho mượn, cho ở nhờ, ủy quyền quản lý nhà ở thì không bắt buộc phải công chứng, chứng thực hợp đồng, trừ trường hợp các bên có nhu cầu.

Đối với các giao dịch quy định tại khoản này thì thời điểm có hiệu lực của hợp đồng là do các bên thỏa thuận; trường hợp các bên không có thỏa thuận thì thời điểm có hiệu lực của hợp đồng là thời điểm ký kết hợp đồng.

3. Văn bản thừa kế nhà ở được công chứng hoặc chứng thực theo quy định của pháp luật về dân sự.

4. Việc công chứng hợp đồng về nhà ở được thực hiện tại tổ chức hành nghề công chứng; việc chứng thực hợp đồng về nhà ở được thực hiện tại Ủy ban nhân dân cấp xã nơi có nhà ở”.

Căn cứ quy định nêu trên, hợp đồng cho mượn nhà ở không bắt buộc phải công chứng, chứng thực, mà do nhu cầu của hai bên. Tuy nhiên, theo chúng tôi, để tăng cường giá trị pháp lý và làm cơ sở để giải quyết tranh chấp (nếu có), các bên nên lựa chọn công chứng hay chứng thực hợp đồng này.

Ngọc Đức

Admin PBGDPL

Xem thêm

Luật Sư Việt Nam

Bình luận