📞 Hotline: 0989919161✉️ Email: [email protected]
Giải đáp pháp luật

Hiệu lực của Thông tư quy định chi tiết thủ tục hành chính

Chào các anh chị! Tôi cần thực hiện một thủ tục hành chính liên quan đến trách nhiệm hoàn nộp thuế. Tuy nhiên, người tư vấn nói rằng, do Luật mới ban hành đã bãi bỏ Luật cũ, Thông tư hướng dẫn Luật...

Chính vì vậy, việc của tôi phải chờ đến khi Thông tư hướng dẫn Luật mới ban hành mới có thể giải quyết được.

Xin hỏi các anh chị, người tư vấn cho tôi trả lời như trên có đúng hay không?

Trả lời

Khoản 1 Điều 3 Nghị định số 63/2010/NĐ-CP ngày 08/6/2010 của Chính phủ quy định: “Thủ tục hành chính là trình tự, cách thức thực hiện, hồ sơ và yêu cầu, điều kiện do cơ quan nhà nước, người có thẩm quyền quy định để giải quyết một công việc cụ thể liên quan đến cá nhân, tổ chức”.

Trình tự thực hiện” là thứ tự các bước tiến hành của đối tượng và cơ quan thực hiện thủ tục hành chính trong giải quyết một công việc cụ thể cho cá nhân, tổ chức.

Hồ sơ” là những loại giấy tờ mà đối tượng thực hiện thủ tục hành chính cần phải nộp hoặc xuất trình cho cơ quan, tổ chức có thẩm quyền giải quyết thủ tục hành chính trước khi cơ quan thực hiện thủ tục hành chính giải quyết một công việc cụ thể cho cá nhân, tổ chức.

"Yêu cầu, điều kiện" là những đòi hỏi mà đối tượng thực hiện thủ tục hành chính phải đáp ứng hoặc phải làm khi thực hiện một thủ tục hành chính cụ thể.

Kiểm soát thủ tục hành chính” là việc xem xét, đánh giá, theo dõi nhằm bảo đảm tính khả thi của quy định về thủ tục hành chính, đáp ứng yêu cầu công khai, minh bạch trong quá trình tổ chức thực hiện thủ tục hành chính.

Theo Điều 2 Luật Ban hành văn bản quy phạm pháp luật năm 2015, “Văn bản quy phạm pháp luật là văn bản có chứa quy phạm pháp luật, được ban hành theo đúng thẩm quyền, hình thức, trình tự, thủ tục quy định trong Luật này.

Văn bản có chứa quy phạm pháp luật nhưng được ban hành không đúng thẩm quyền, hình thức, trình tự, thủ tục quy định trong Luật này thì không phải là văn bản quy phạm pháp luật”.

Trong hệ thống văn bản quy phạm pháp luật hiện nay có Thông tư của Chánh án Tòa án nhân dân tối cao; thông tư của Viện trưởng Viện kiểm sát nhân dân tối cao; thông tư của Bộ trưởng, Thủ trưởng cơ quan ngang bộ; thông tư liên tịch giữa Chánh án Tòa án nhân dân tối cao với Viện trưởng Viện kiểm sát nhân dân tối cao; thông tư liên tịch giữa Bộ trưởng, Thủ trưởng cơ quan ngang bộ với Chánh án Tòa án nhân dân tối cao, Viện trưởng Viện kiểm sát nhân dân tối cao; quyết định của Tổng Kiểm toán nhà nước.

Tuy nhiên, một trong những hành vi bị nghiêm cấm được quy định tại khoản 4 Điều 14 của Luật này là: “Quy định thủ tục hành chính trong thông tư của Chánh án Tòa án nhân dân tối cao, thông tư của Viện trưởng Viện kiểm sát nhân dân tối cao, thông tư của Bộ trưởng, Thủ trưởng cơ quan ngang bộ, thông tư liên tịch giữa Chánh án Tòa án nhân dân tối cao với Viện trưởng Viện kiểm sát nhân dân tối cao, thông tư liên tịch giữa Bộ trưởng, Thủ trưởng cơ quan ngang bộ với Chánh án Tòa án nhân dân tối cao, Viện trưởng Viện kiểm sát nhân dân tối cao, quyết định của Tổng Kiểm toán nhà nước, nghị quyết của Hội đồng nhân dân cấp tỉnh, quyết định của Ủy ban nhân dân cấp tỉnh, văn bản quy phạm pháp luật của chính quyền địa phương ở đơn vị hành chính - kinh tế đặc biệt; nghị quyết của Hội đồng nhân dân cấp huyện, quyết định của Ủy ban nhân dân cấp huyện, nghị quyết của Hội đồng nhân dân cấp xã, quyết định của Ủy ban nhân dân cấp xã, trừ trường hợp được giao trong luật”.

Có nghĩa là, kể từ thời điểm Luật Ban hành văn bản quy phạm pháp luật năm 2015 có hiệu lực (ngày 01/7/2016), mặc dù là một loại văn bản quy phạm pháp luật, nhưng Thông tư ban hành sau thời điểm này không được quy định thủ tục hành chính.

Điều 154 của Luật này quy định văn bản quy phạm pháp luật hết hiệu lực toàn bộ hoặc một phần trong các trường hợp sau đây:

“1. Hết thời hạn có hiệu lực đã được quy định trong văn bản.

2. Được sửa đổi, bổ sung hoặc thay thế bằng văn bản quy phạm pháp luật mới của chính cơ quan nhà nước đã ban hành văn bản đó.

3. Bị bãi bỏ bằng một văn bản của cơ quan nhà nước có thẩm quyền.

4. Văn bản quy phạm pháp luật hết hiệu lực thì văn bản quy phạm pháp luật quy định chi tiết thi hành văn bản đó cũng đồng thời hết hiệu lực”.

Về nguyên tắc, đúng như người đã tư vấn cho bạn nói, khi văn bản Luật hết hiệu lực thì văn bản quy phạm pháp luật quy định chi tiết thi hành văn bản đó như Nghị định, Thông tư hướng dẫn cũng đồng thời hết hiệu lực. Tuy nhiên, theo khoản 4 Điều 172 của Luật này, “Những quy định về thủ tục hành chính trong văn bản quy phạm pháp luật do cơ quan, người có thẩm quyền quy định tại khoản 4 Điều 14 của Luật này được ban hành trước ngày Luật này có hiệu lực thì tiếp tục được áp dụng cho đến khi bị bãi bỏ bằng văn bản khác hoặc bị thay thế bằng thủ tục hành chính mới”.

Cho nên, nếu thủ tục hành chính mà bạn đang cần thực hiện được quy định chi tiết tại Thông tư hướng dẫn ban hành trước ngày 01/7/2016, thì tiếp tục được áp dụng cho đến khi Thông tư đó bị bãi bỏ bằng văn bản khác hoặc bị thay thế bằng thủ tục hành chính mới. Nói cách khác, căn cứ quy định này, theo chúng tôi, bạn nên liên hệ với cơ quan có thẩm quyền giải quyết thủ tục hành chính để được giải quyết.

Hùng Phi

Vũ Thị Thanh Tú

Xem thêm

Luật Sư Việt Nam

Bình luận