Hậu quả pháp lý của việc hủy kết hôn trái pháp luật
Vừa rồi ở nơi tôi sinh sống xảy ra một chuyện rất hy hữu. Đó là, hai anh chị đăng ký kết hôn, tổ chức cưới xin đàng hoàng và đã có với nhau một đứa con gái 3 tuổi. Bỗng đâu, có một người phụ nữ từ...
Do khó khăn về kinh tế, chị chấp nhận đi xuất khẩu lao động, 2 người con chung gửi ông bà ngoại chăm sóc.
Xin hỏi, với trường hợp nêu trên, chính quyền có quyết định hủy đăng ký kết hôn của anh chồng với người vợ sau hay không? Nếu cuộc hôn nhân này bị hủy thì chuyện tài sản và con cái chung giữa hai người sẽ được xử lý như thế nào?
Trả lời
Kết hôn là việc nam và nữ xác lập quan hệ vợ chồng với nhau theo quy định của Luật này về điều kiện kết hôn và đăng ký kết hôn.
Nếu đúng thông tin như bạn nêu về việc anh chồng chưa ly hôn nhưng lại kết hôn với người khác, anh ta đã vi phạm điều kiện kết hôn theo quy định của pháp luật hôn nhân và gia đình. Cụ thể, theo khoản 1 Điều 8 Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014, nam, nữ kết hôn với nhau phải tuân theo các điều kiện sau đây:
“a) Nam từ đủ 20 tuổi trở lên, nữ từ đủ 18 tuổi trở lên;
b) Việc kết hôn do nam và nữ tự nguyện quyết định;
c) Không bị mất năng lực hành vi dân sự;
d) Việc kết hôn không thuộc một trong các trường hợp cấm kết hôn theo quy định tại các điểm a, b, c và d khoản 2 Điều 5 của Luật này”.
Không chỉ anh chồng, mà người vợ sau (dù chị này có thể không biết người mình kết hôn đã kết hôn với người khác và chưa ly hôn), đều đã vi phạm điều cấm của pháp luật. Bởi vì, theo điểm d khoản 2 Điều 5 của Luật này, một trong những hành vi bị nghiêm cấm là “kết hôn hoặc chung sống như vợ chồng giữa những người cùng dòng máu về trực hệ; giữa những người có họ trong phạm vi ba đời; giữa cha, mẹ nuôi với con nuôi; giữa người đã từng là cha, mẹ nuôi với con nuôi, cha chồng với con dâu, mẹ vợ với con rể, cha dượng với con riêng của vợ, mẹ kế với con riêng của chồng”.
Cũng chính vì vậy, về nguyên tắc việc kết hôn trái pháp luật của họ sẽ bị Tòa án quyết định hủy. Bản thân chị vợ nếu bị anh chồng lừa dối để kết hôn, chị vợ trước của anh chồng và cá nhân, cơ quan, tổ chức khác có quyền đề nghị, yêu cầu Tòa án hủy việc kết hôn trái pháp luật.
Hậu quả pháp lý của việc hủy kết hôn trái pháp luật được quy định tại Điều 12 của Luật này như sau:
“1. Khi việc kết hôn trái pháp luật bị hủy thì hai bên kết hôn phải chấm dứt quan hệ như vợ chồng.
2. Quyền, nghĩa vụ của cha, mẹ, con được giải quyết theo quy định về quyền, nghĩa vụ của cha, mẹ, con khi ly hôn.
3. Quan hệ tài sản, nghĩa vụ và hợp đồng giữa các bên được giải quyết theo quy định tại Điều 16 của Luật này”.
Theo đó, quyền và nghĩa vụ đối với con chung của hai người được giải quyết như quyền, nghĩa vụ của cha mẹ và con. Bởi lẽ, theo khoản 2 Điều 68 của Luật này, “con sinh ra không phụ thuộc vào tình trạng hôn nhân của cha mẹ đều có quyền và nghĩa vụ như nhau đối với cha mẹ của mình được quy định tại Luật này, Bộ luật dân sự và các luật khác có liên quan”. Ví dụ, quyền và nghĩa vụ thương yêu con, tôn trọng ý kiến của con; chăm lo việc học tập, giáo dục để con phát triển lành mạnh về thể chất, trí tuệ, đạo đức, trở thành người con hiếu thảo của gia đình, công dân có ích cho xã hội; trông nom, nuôi dưỡng, chăm sóc, bảo vệ quyền, lợi ích hợp pháp của con chưa thành niên, con đã thành niên mất năng lực hành vi dân sự hoặc không có khả năng lao động và không có tài sản để tự nuôi mình; giám hộ hoặc đại diện theo quy định của Bộ luật dân sự cho con chưa thành niên, con đã thành niên mất năng lực hành vi dân sự...
Tài sản chung giữa hai người được giải quyết theo quy định tại Điều 16 của Luật này như sau:
“1. Quan hệ tài sản, nghĩa vụ và hợp đồng của nam, nữ chung sống với nhau như vợ chồng mà không đăng ký kết hôn được giải quyết theo thỏa thuận giữa các bên; trong trường hợp không có thỏa thuận thì giải quyết theo quy định của Bộ luật dân sự và các quy định khác của pháp luật có liên quan.
2. Việc giải quyết quan hệ tài sản phải bảo đảm quyền, lợi ích hợp pháp của phụ nữ và con; công việc nội trợ và công việc khác có liên quan để duy trì đời sống chung được coi như lao động có thu nhập”.
Khác với việc hai người là vợ chồng thì tài sản phát sinh trong thời kỳ hôn nhân về nguyên tắc được xác định là tài sản chung của vợ chồng. Trong trường hợp mà bạn nêu, những tài sản mà họ cùng tạo lập sẽ được xác định theo thỏa thuận giữa hai người hoặc theo quy định của pháp luật dân sự.
Thu Hường
Vũ Thị Thanh Tú