Hành vi phát tán clip có nội dung nhạy cảm của người khác lên mạng xã hội bị xử lý như thế nào?
Tôi có một sự việc muốn hỏi: “Em gái tôi đang rơi vào hoàn cảnh rất rắc rối. Bạn trai cũ của em gái tôi vì bất đồng nên đã đăng một đoạn video ghi lại cảnh “giường chiếu” giữa hai đứa lên...
Tôi có một sự việc muốn hỏi: “Em gái tôi đang rơi vào hoàn cảnh rất rắc rối. Bạn trai cũ của em gái tôi vì bất đồng nên đã đăng một đoạn video ghi lại cảnh “giường chiếu” giữa hai đứa lên mạng xã hội. Dù đã gỡ bài đăng xuống nhưng tốc độ lan truyền của đoạn video nhanh đến mức giờ bạn bè và gia đình ai cũng biết. Em gái tôi hiện tại đang bị khủng hoảng tâm lý nghiêm trọng vì chuyện này.”. Tôi muốn hỏi hành vi của người con trai đó có vi phạm pháp luật không?
Trả lời:
Đối với việc bạn hỏi, tôi xin trả lời như sau, xem xét về góc độ dân sự thì việc sử dụng hình ảnh của một người mà không được sự đồng ý của người đó là vi phạm quyền của cá nhân đối với hình ảnh được quy định tại Điều 32 Bộ luật Dân sự năm 2015, cụ thể:
“Điều 32. Quyền của cá nhân đối với hình ảnh
1. Cá nhân có quyền đối với hình ảnh của mình.
Việc sử dụng hình ảnh của cá nhân phải được người đó đồng ý.
3. Việc sử dụng hình ảnh mà vi phạm quy định tại Điều này thì người có hình ảnh có quyền yêu cầu Tòa án ra quyết định buộc người vi phạm, cơ quan, tổ chức, cá nhân có liên quan phải thu hồi, tiêu hủy, chấm dứt việc sử dụng hình ảnh, bồi thường thiệt hại và áp dụng các biện pháp xử lý khác theo quy định của pháp luật.”
Bên cạnh đó, đoạn video được đăng tải trên mạng xã hội của người con trai nêu trên là video có nội dung nhạy cảm ghi lại cảnh “giường chiếu” giữa em gái của bạn và anh ta. Do đó, việc làm của anh ta đã vi phạm quy định cấm tại điểm b Khoản 1 Điều 5 Nghị định số 72/2013/NĐ-CP ngày 15/7/2013 của Chính phủ về quản lý, cung cấp, sử dụng dịch vụ internet và thông tin trên mạng, theo đó:
“Điều 5. Các hành vi bị cấm
1. Lợi dụng việc cung cấp, sử dụng dịch vụ Internet và thông tin trên mạng nhằm mục đích:
b) Tuyên truyền, kích động bạo lực, dâm ô, đồi trụy, tội ác, tệ nạn xã hội, mê tín dị đoan, phá hoại thuần phong, mỹ tục của dân tộc;”
Trong nội dung câu hỏi, môi trường mạng xã hội là môi trường có tính đại chúng cao và mức độ phổ biến lớn, bởi vậy, mặc dù người con trai trên đã gỡ bài đăng xuống nhưng tốc độ lan truyền của đoạn video nhanh đến mức giờ bạn bè và gia đình ai cũng biết. Do đó, hậu quả để lại là việc em gái của bạn đang bị khủng hoảng tâm lý nghiêm trọng bởi cảm giác lo sợ, xấu hổ, thậm chí cảm thấy nhục nhã. Như vậy, tùy theo mức độ ảnh hưởng tinh thần và nếu chứng minh được mục đích của anh ta là xúc phạm danh dự, nhân phẩm nhằm xâm hại đến cuộc sống của em gái bạn thì trường hợp này có thể xem xét dấu hiệu cấu thành “Tội làm nhục người khác” theo Điều 155 Bộ luật Hình sự năm 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2017), cụ thể:
“Điều 155. Tội làm nhục người khác
1. Người nào xúc phạm nghiêm trọng nhân phẩm, danh dự của người khác, thì bị phạt cảnh cáo, phạt tiền từ 10.000.000 đồng đến 30.000.000 đồng hoặc phạt cải tạo không giam giữ đến 03 năm.
2. Phạm tội thuộc một trong các trường hợp sau đây, thì bị phạt tù từ 03 tháng đến 02 năm:
e) Sử dụng mạng máy tính hoặc mạng viễn thông, phương tiện điện tử để phạm tội;
g) Gây rối loạn tâm thần và hành vi của nạn nhân mà tỷ lệ tổn thương cơ thể từ 31% đến 60%.
3. Phạm tội thuộc một trong các trường hợp sau đây, thì bị phạt tù từ 02 năm đến 05 năm:
a) Gây rối loạn tâm thần và hành vi của nạn nhân mà tỷ lệ tổn thương cơ thể 61% trở lên;
b) Làm nạn nhân tự sát.”
Tuy nhiên, theo quy định tại Khoản 1 Điều 155 Bộ luật Tố tụng Hình sự năm 2015 thì “Chỉ được khởi tố vụ án hình sự về tội phạm quy định tại khoản 1 các điều 134, 135, 136, 138, 139, 141, 143, 155, 156 và 226 của Bộ luật hình sự khi có yêu cầu của bị hại hoặc người đại diện của bị hại là người dưới 18 tuổi, người có nhược điểm về tâm thần hoặc thể chất hoặc đã chết.”. Do đó, để xử lý về hành vi làm nhục người khác thì về nguyên tắc em gái của bạn phải làm đơn tố cáo người có hành vi vi phạm thì cơ quan điều tra có thẩm quyền mới có thể tiếp nhận và xử lý theo quy định.
Trường hợp chưa đủ cơ sở yếu tố cấu thành tội phạm thì có thể xem xử lý hành chính theo quy định tại g Khoản 3 Điều 66 Nghị định số 174/2013/NĐ-CP ngày 13/11/2013 của Chính phủ quy định xử phạt vi phạm hành chính trong lĩnh vực bưu chính, viễn thông, công nghệ thông tin và tần số vô tuyến điện như sau:
“Điều 66. Vi phạm quy định về lưu trữ, cho thuê, truyền đưa, cung cấp, truy nhập, thu thập, xử lý, trao đổi và sử dụng thông tin
3. Phạt tiền từ 10.000.000 đồng đến 20.000.000 đồng đối với một trong các hành vi sau đây:
g) Cung cấp, trao đổi, truyền đưa hoặc lưu trữ, sử dụng thông tin số nhằm đe dọa, quấy rối, xuyên tạc, vu khống, xúc phạm uy tín của tổ chức, danh dự, nhân phẩm, uy tín của người khác;”.
Admin Admin Admin