Hành vi lạm dụng tín nhiệm chiếm đoạt tài sản bị xử lý như thế nào?
Tôi và một số người bạn có cho chị T vay 3 tỷ để mở công ty và hứa sẽ trả trong thời hạn 3 năm, nhưng đến nay đã quá 3 năm mà chị T không trả. Tôi và các bạn liên lạc để đòi nợ thì chị T tìm cách...
Tôi và một số người bạn có cho chị T vay 3 tỷ để mở công ty và hứa sẽ trả trong thời hạn 3 năm, nhưng đến nay đã quá 3 năm mà chị T không trả. Tôi và các bạn liên lạc để đòi nợ thì chị T tìm cách trốn tránh. Nhiều lần chúng tôi liên hệ để đòi tiền nhưng không được. Xin hỏi với hành vi trên, chị T phạm tội gì? Mức hình phạt như thế nào? Cơ quan nào có thẩm quyền giải quyết vụ việc này?
Trả lời:
Điều 140 Bộ luật Hình sự năm 1999 (sửa đổi, bổ sung năm 2009) quy định tội lạm dụng tín nhiệm chiếm đoạt tài sản như sau:
1. Người nào có một trong những hành vi sau đây chiếm đoạt tài sản của người khác có giá trị từ bốn triệu đồng đến dưới năm mươi triệu đồng hoặc dưới bốn triệu đồng nhưng gây hậu quả nghiêm trọng hoặc đã bị xử phạt hành chính về hành vi chiếm đoạt hoặc đã bị kết án về tội chiếm đoạt tài sản, chưa được xoá án tích mà còn vi phạm, thì bị phạt cải tạo không giam giữ đến ba năm hoặc phạt tù từ ba tháng đến ba năm:
a) Vay, mượn, thuê tài sản của người khác hoặc nhận được tài sản của người khác bằng các hình thức hợp đồng rồi dùng thủ đoạn gian dối hoặc bỏ trốn để chiếm đoạt tài sản đó;
b) Vay, mượn, thuê tài sản của người khác hoặc nhận được tài sản của người khác bằng các hình thức hợp đồng và đã sử dụng tài sản đó vào mục đích bất hợp pháp dẫn đến không có khả năng trả lại tài sản.
2. Phạm tội thuộc một trong các trường hợp sau đây, thì bị phạt tù từ hai năm đến bảy năm:
a) Có tổ chức;
b) Lợi dụng chức vụ, quyền hạn hoặc lợi dụng danh nghĩa cơ quan, tổ chức;
c) Dùng thủ đoạn xảo quyệt;
d) Chiếm đoạt tài sản có giá trị từ năm mươi triệu đồng đến dưới hai trăm triệu đồng;
đ) Tái phạm nguy hiểm;
e) Gây hậu quả nghiêm trọng.
3. Phạm tội thuộc một trong các trường hợp sau đây, thì bị phạt tù từ bảy năm đến mười lăm năm:
a) Chiếm đoạt tài sản có giá trị từ hai trăm triệu đồng đến dưới năm trăm triệu đồng;
b) Gây hậu quả rất nghiêm trọng.
4. Phạm tội thuộc một trong các trường hợp sau đây, thì bị phạt tù từ mười hai năm đến hai mươi năm hoặc tù chung thân:
a) Chiếm đoạt tài sản có giá trị từ năm trăm triệu đồng trở lên;
b) Gây hậu quả đặc biệt nghiêm trọng.
5. Người phạm tội còn có thể bị phạt tiền từ mười triệu đồng đến một trăm triệu đồng, bị cấm đảm nhiệm chức vụ, cấm hành nghề hoặc làm công việc nhất định từ một năm đến năm năm và bị tịch thu một phần hoặc toàn bộ tài sản hoặc một trong hai hình phạt này.
Như vậy, trường hợp mà bạn nêu, nếu chị T có hành vi trốn tránh, bỏ trốn để chiếm đoạt số tiền mà các bạn đã cho mượn thì hành vi của chị T đã đủ dấu hiệu cấu thành tội lạm dụng tín nhiệm chiếm đoạt tài sản theo quy định tại Điều 140 của Bộ luật Hình sự nêu trên và sẽ phải chịu hình phạt tương ứng quy định tại Điều này.
Theo thông tin mà bạn cung cấp, số tiền mà chị T đã chiếm đoạt của các bạn là 3 tỷ đồng. Đối chiếu với quy định tại điểm a Khoản 4 Điều 140 của Bộ luật hình sự, thì chị T sẽ bị phạt tù từ mười hai năm đến hai mươi năm hoặc tù chung thân. Ngoài ra, người phạm tội còn có thể bị phạt tiền từ mười triệu đồng đến một trăm triệu đồng, bị cấm đảm nhiệm chức vụ, cấm hành nghề hoặc làm công việc nhất định từ một năm đến năm năm và bị tịch thu một phần hoặc toàn bộ tài sản hoặc một trong hai hình phạt này.
Về thẩm quyền giải quyết vụ việc: Theo quy định tại Điều 101 của Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2003 thì các bạn có thể tố giác tội phạm với Cơ quan điều tra, Viện kiểm sát, Tòa án hoặc với các cơ quan khác, tổ chức. Việc tố giác có thể bằng văn bản hoặc bằng miệng; nếu tố giác bằng miệng thì cơ quan, tổ chức tiếp nhận phải lập biên bản và có chữ ký của người tố giác. Cơ quan, tổ chức khi nhận được tố giác của công dân phải báo tin ngay về tội phạm cho Cơ quan điều tra bằng văn bản.
Về thẩm quyền điều tra, xét xử vụ việc, theo quy định tại Điều 110 và Điều 170 của Bộ luật tố tụng hình sự năm 2003 thì:
- Cơ quan điều tra cấp tỉnh có thẩm quyền điều tra các vụ án hình sự về những tội phạm thuộc thẩm quyền xét xử của Tòa án nhân dân cấp tỉnh.
- Tòa án nhân dân cấp tỉnh có thẩm quyền xét xử sơ thẩm những vụ án hình sự về những tội phạm không thuộc thẩm quyền của Tòa án nhân dân cấp huyện hoặc những vụ án thuộc thẩm quyền của Tòa án cấp dưới mà mình lấy lên để xét xử. Những vụ án hình sự về tội phạm ít nghiêm trọng, tội phạm nghiêm trọng và tội phạm rất nghiêm trọng, trừ quy định tại điểm a, b, c khoản 1 Điều 110 của Bộ luật tố tụng hình sự là những vụ án thuộc thẩm quyền xét xử của Tòa án nhân dân cấp huyện.
Theo các thông tin mà bạn cung cấp thì đây là tội phạm đặc biệt nghiêm trọng (mức cao nhất của khung hình phạt đối với tội ấy là trên mười lăm năm tù, tù chung thân hoặc tử hình), do vậy, thẩm quyền điều tra vụ án trong trường hợp của bạn thuộc cơ quan điều tra cấp tỉnh.
Admin Admin Admin