📞 Hotline: 0989919161✉️ Email: [email protected]
Giải đáp pháp luật

Giấy tờ, tài liệu chứng minh quan hệ nhân thân là anh, chị, em ruột

Chú tôi không kết hôn nên sau khi về hưu muốn ra bắc để ở cùng bố mẹ tôi. Giấy tờ tùy thân của chú tôi, cái thì hết hạn, cái thì thất lạc. Để làm thủ tục đăng ký thường trú có thể thay thế bằng xác...

Trả lời

Một trong những trường hợp công dân được đăng ký thường trú tại chỗ ở hợp pháp không thuộc quyền sở hữu của mình khi được chủ hộ và chủ sở hữu chỗ ở hợp pháp đó đồng ý, theo điểm b khoản 2 Điều 20 Luật Cư trú năm 2020 là “Người cao tuổi về ở với anh ruột, chị ruột, em ruột, cháu ruột”.

Giấy tờ, tài liệu chứng minh quan hệ nhân thân đối với trường hợp này được hướng dẫn tại điểm a, điểm d khoản 2 Điều 6 Nghị định số 62/2021/NĐ-CP ngày 29/6/2021 của Chính phủ như sau:

- Điểm a khoản 2 Điều 6: “Giấy tờ, tài liệu để chứng minh mối quan hệ anh, chị, em ruột, cháu ruột: Giấy khai sinh, xác nhận của Ủy ban nhân dân cấp xã hoặc Ủy ban nhân dân cấp huyện nơi không có đơn vị hành chính cấp xã nơi cư trú”.

- Điểm d khoản 2 Điều 6: “Giấy tờ chứng minh người cao tuổi: Giấy khai sinh, thẻ Căn cước công dân hoặc Chứng minh nhân dân, Hộ chiếu; Sổ Bảo hiểm xã hội, Thẻ bảo hiểm y tế hoặc xác nhận của Ủy ban nhân dân cấp xã, Ủy ban nhân dân cấp huyện nơi không có đơn vị hành chính cấp xã tại nơi cư trú về ngày, tháng, năm sinh”.

Theo khoản 6 Điều 4 Luật Hộ tịch năm 2014, “Giấy khai sinh là văn bản do cơ quan nhà nước có thẩm quyền cấp cho cá nhân khi được đăng ký khai sinh; nội dung Giấy khai sinh bao gồm các thông tin cơ bản về cá nhân theo quy định tại khoản 1 Điều 14 của Luật này”.

Nội dung đăng ký khai sinh tại khoản 1 Điều 14 gồm:

“a) Thông tin của người được đăng ký khai sinh: Họ, chữ đệm và tên; giới tính; ngày, tháng, năm sinh; nơi sinh; quê quán; dân tộc; quốc tịch;

b) Thông tin của cha, mẹ người được đăng ký khai sinh: Họ, chữ đệm và tên; năm sinh; dân tộc; quốc tịch; nơi cư trú;

c) Số định danh cá nhân của người được đăng ký khai sinh”.

Các nội dung nêu trên là thông tin hộ tịch cơ bản của cá nhân, được ghi vào Sổ hộ tịch, Giấy khai sinh, cập nhật vào Cơ sở dữ liệu hộ tịch điện tử và Cơ sở dữ liệu quốc gia về dân cư. Hồ sơ, giấy tờ của cá nhân liên quan đến thông tin khai sinh phải phù hợp với nội dung đăng ký khai sinh của người đó.

Như vậy, giấy khai sinh chỉ có thông tin của cha, mẹ người được đăng ký khai sinh, không có thông tin về anh chị em ruột. Để chứng minh mối quan hệ, cần có xác nhận của UBND cấp xã hoặc UBND cấp huyện nơi không có đơn vị hành chính cấp xã nơi cư trú.

Theo Điều 2 Luật Người cao tuổi năm 2009, “Người cao tuổi được quy định trong Luật này là công dân Việt Nam từ đủ 60 tuổi trở lên”.

Trường hợp người cao tuổi không có Giấy khai sinh, thẻ Căn cước công dân hoặc Chứng minh nhân dân, Hộ chiếu, Sổ Bảo hiểm xã hội, Thẻ bảo hiểm y tế, cần có xác nhận của UBND cấp xã, UBND cấp huyện nơi không có đơn vị hành chính cấp xã tại nơi cư trú về ngày, tháng, năm sinh để xác định người này từ đủ 60 tuổi trở lên.

Lưu ý, theo khoản 3 của Điều 6 Nghị định số 62/2021/NĐ-CP, “trường hợp thông tin chứng minh quan hệ nhân thân của công dân đã có trên Cơ sở dữ liệu quốc gia về dân cư hoặc cơ sở dữ liệu chuyên ngành thì cơ quan đăng ký cư trú không yêu cầu công dân phải cung cấp giấy tờ chứng minh quan hệ nhân thân”.

Thủ tục đăng ký thường trú được thực hiện theo Điều 22 Luật Cư trú năm 2020 như sau:

“1. Người đăng ký thường trú nộp hồ sơ đăng ký thường trú đến cơ quan đăng ký cư trú nơi mình cư trú.

2. Khi tiếp nhận hồ sơ đăng ký thường trú, cơ quan đăng ký cư trú kiểm tra và cấp phiếu tiếp nhận hồ sơ cho người đăng ký; trường hợp hồ sơ chưa đầy đủ thì hướng dẫn người đăng ký bổ sung hồ sơ.

3. Trong thời hạn 07 ngày làm việc kể từ ngày nhận được hồ sơ đầy đủ và hợp lệ, cơ quan đăng ký cư trú có trách nhiệm thẩm định, cập nhật thông tin về nơi thường trú mới của người đăng ký vào Cơ sở dữ liệu về cư trú và thông báo cho người đăng ký về việc đã cập nhật thông tin đăng ký thường trú; trường hợp từ chối đăng ký thì phải trả lời bằng văn bản và nêu rõ lý do.

4. Người đã đăng ký thường trú mà chuyển đến chỗ ở hợp pháp khác và đủ điều kiện đăng ký thường trú thì có trách nhiệm đăng ký thường trú tại nơi ở mới theo quy định của Luật này trong thời hạn 12 tháng kể từ ngày đủ điều kiện đăng ký”.

Về nguyên tắc, người đăng ký thường trú nộp hồ sơ đăng ký thường trú đến cơ quan đăng ký cư trú. Nếu không thể trực tiếp làm thủ tục này, người cao tuổi có thể ủy quyền cho người khác thực hiện thay theo quy định của pháp luật dân sự.

Thu Hường

Vũ Thị Thanh Tú

Xem thêm

Luật Sư Việt Nam

Bình luận