Giải đáp pháp luật
Hiệu lực pháp lý của chữ ký điện tử trong hợp đồng kinh tế
ÔCông ty A và Công ty B thực hiện ký kết hợp đồng mua bán thiết bị công nghệ thông tin. Do khoảng cách địa lý, hai bên quyết định ký hợp đồng bằng chữ ký số.
- Sau khi thực hiện, Công ty B không giao hàng đúng hạn và lập luận rằng hợp đồng không có giá trị pháp lý vì không có con dấu đỏ và chữ ký tay trực tiếp. Xin hỏi lập luận của Công ty B có đúng không? Hợp đồng được ký bằng chữ ký số có giá trị pháp lý như thế nào? Trả lời: Tại khoản 1, 3 Điều 3 Luật Giao dịch điện tử quy định như sau: Điều 3. Giải thích từ ngữ Trong Luật này, các từ ngữ dưới đây được hiểu như sau: 1. Giao dịch điện tử là giao dịch được thực hiện bằng phương tiện điện tử. .. 3. Môi trường điện tử là môi trường mạng viễn thông, mạng Internet, mạng máy tính, hệ thống thông tin. Tại Điều 8, Điều 9, Điều 23 Luật Giao dịch điện tử quy định như sau: Điều 8. Giá trị pháp lý của thông điệp dữ liệu Thông tin trong thông điệp dữ liệu không bị phủ nhận giá trị pháp lý chỉ vì thông tin đó được thể hiện dưới dạng thông điệp dữ liệu. Điều 9. Thông điệp dữ liệu có giá trị như văn bản 1. Trường hợp pháp luật yêu cầu thông tin phải được thể hiện bằng văn bản thì thông điệp dữ liệu được xem là đáp ứng yêu cầu nếu thông tin trong thông điệp dữ liệu đó có thể truy cập và sử dụng được để tham chiếu. 2. Trường hợp pháp luật yêu cầu văn bản phải được công chứng, chứng thực thì thông điệp dữ liệu được xem là đáp ứng yêu cầu nếu được công chứng theo quy định của pháp luật về công chứng; chứng thực theo quy định của Luật này và pháp luật về chứng thực Điều 23. Giá trị pháp lý của chữ ký điện tử 1. Chữ ký điện tử không bị phủ nhận giá trị pháp lý chỉ vì được thể hiện dưới dạng chữ ký điện tử. 2. Chữ ký điện tử chuyên dùng bảo đảm an toàn hoặc chữ ký số có giá trị pháp lý tương đương chữ ký của cá nhân đó trong văn bản giấy. 3. Trường hợp pháp luật quy định văn bản phải được cơ quan, tổ chức xác nhận thì yêu cầu đó được xem là đáp ứng đối với một thông điệp dữ liệu nếu thông điệp dữ liệu đó được ký bằng chữ ký điện tử chuyên dùng bảo đảm an toàn hoặc chữ ký số của cơ quan, tổ chức đó. Tại khoản 3 Điều 22 Luật Giao dịch điện tử quy định như sau: Điều 22. Chữ ký điện tử ... 3. Chữ ký số là chữ ký điện tử đáp ứng đủ các yêu cầu sau đây: a) Xác nhận chủ thể ký và khẳng định sự chấp thuận của chủ thể ký đối với thông điệp dữ liệu; b) Dữ liệu tạo chữ ký số chỉ gắn duy nhất với nội dung của thông điệp dữ liệu được chấp thuận; c) Dữ liệu tạo chữ ký số chỉ thuộc sự kiểm soát của chủ thể ký tại thời điểm ký; d) Mọi thay đổi đối với thông điệp dữ liệu sau thời điểm ký đều có thể bị phát hiện; đ) Phải được bảo đảm bởi chứng thư chữ ký số. Trường hợp chữ ký số chuyên dùng công vụ phải được bảo đảm bởi chứng thư chữ ký số của tổ chức cung cấp dịch vụ chứng thực chữ ký số chuyên dùng công vụ. Trường hợp chữ ký số công cộng phải được bảo đảm bởi chứng thư chữ ký số của tổ chức cung cấp dịch vụ chứng thực chữ ký số công cộng; e) Phương tiện tạo chữ ký số phải bảo đảm dữ liệu tạo chữ ký số không bị tiết lộ, thu thập, sử dụng cho mục đích giả mạo chữ ký; bảo đảm dữ liệu được dùng để tạo chữ ký số chỉ có thể sử dụng một lần duy nhất; không làm thay đổi dữ liệu cần ký. 4. Việc sử dụng các hình thức xác nhận khác bằng phương tiện điện tử để thể hiện sự chấp thuận của chủ thể ký đối với thông điệp dữ liệu mà không phải là chữ ký điện tử thực hiện theo quy định khác của pháp luật có liên quan. Như vậy, theo quy định, giá trị pháp lý của chữ ký điện tử được công nhận nếu nó đáp ứng các điều kiện về an toàn. Chữ ký số (một dạng chữ ký điện tử an toàn) có giá trị tương đương chữ ký tay của cá nhân hoặc con dấu của tổ chức. Hợp đồng giữa hai công ty có đầy đủ giá trị pháp lý và ràng buộc trách nhiệm các bên. Thu Hường
Vũ Thị Thanh Tú
Xem thêm
Luật Sư Việt Nam