📞 Hotline: 0989919161✉️ Email: [email protected]
Giải đáp pháp luật

Dùng vũ lực để ép buộc người khác làm việc trái ý muốn có thể bị xử lý hình sự

Em họ tôi theo bạn bè tìm việc tại mỏ đá của một doanh nghiệp. Thông tin ban đầu là làm nấu ăn cho công nhân và dọn dẹp vệ sinh. Em họ tôi được ứng trước 3 tháng lương để trả tiền thuê nhà, mua sắm...

Sau đúng một tháng, quản lý doanh nghiệp yêu cầu em họ tôi chuyển sang bộ phận bốc xếp đá hầm lò. Nếu không đồng ý thì phải trả lại tiền ứng lương và nộp tiền phạt hợp đồng. Vì biết em họ tôi không có khả năng trả nên ngoài yêu cầu, quản lý doanh nghiệp còn đe dọa, thậm chí đánh cảnh cáo nên dù không em họ tôi phải làm cho đến khi hết nợ.

Hành vi của quản lý doanh nghiệp có phải là cưỡng bức lao động hay không? Nếu gia đình em tôi tố cáo thì họ bị xử lý như thế nào?

Trả lời

Người sử dụng lao động có quyền trực tiếp hoặc thông qua tổ chức dịch vụ việc làm, doanh nghiệp hoạt động cho thuê lại lao động để tuyển dụng lao động theo nhu cầu của người sử dụng lao động.

Theo khoản 1 Điều 13 Bộ luật Lao động năm 2019, “Hợp đồng lao động là sự thỏa thuận giữa người lao động và người sử dụng lao động về việc làm có trả công, tiền lương, điều kiện lao động, quyền và nghĩa vụ của mỗi bên trong quan hệ lao động”.

Dù trực tiếp hoặc thông qua tổ chức dịch vụ việc làm, doanh nghiệp hoạt động cho thuê lại lao động để tuyển dụng lao động, trước khi nhận người lao động vào làm việc thì người sử dụng lao động phải giao kết hợp đồng lao động với người lao động trên nguyên tắc thỏa thuận giữa người lao động và người sử dụng lao động.

Cưỡng bức lao động, theo khoản 7 Điều 3 của Bộ luật này, “là việc dùng vũ lực, đe dọa dùng vũ lực hoặc các thủ đoạn khác để ép buộc người lao động phải làm việc trái ý muốn của họ”.

Cùng với ngược đãi người lao động, “cưỡng bức lao động” là một trong các hành vi bị nghiêm cấm được quy định tại khoản 2 Điều 8 của Bộ luật này.

Vi phạm điều cấm của pháp luật lao động, tùy theo tính chất, mức độ và hậu quả, người sử dụng lao động thực hiện hành vi này có thể bị xử phạt vi phạm hành chính hoặc phải chịu trách nhiệm hình sự.

Vi phạm về tuyển dụng lao động, quản lý lao động, khoản 3 Điều 8 Nghị định số 12/2022/NĐ-CP ngày 07/01/2022 của Chính phủ quy định: “Phạt tiền từ 50.000.000 đồng đến 75.000.000 đồng đối với một trong các hành vi: lôi kéo; dụ dỗ; hứa hẹn; quảng cáo gian dối hoặc thủ đoạn khác để lừa gạt người lao động hoặc để tuyển dụng người lao động với mục đích bóc lột, cưỡng bức lao động nhưng chưa đến mức truy cứu trách nhiệm hình sự”.

Vi phạm về thực hiện hợp đồng lao động, theo điểm a khoản 4 Điều 11 Nghị định này, với người sử dụng lao động có một trong các hành vi “cưỡng bức lao động hoặc ngược đãi người lao động nhưng chưa đến mức truy cứu trách nhiệm hình sự” bị phạt tiền từ 50.000.000 đồng đến 75.000.000 đồng.

Nếu tới mức phải chịu trách nhiệm hình sự, Điều 297 Bộ luật Hình sự năm 2015, được sửa đổi, bổ sung năm 2017 quy định Tội cưỡng bức lao động như sau:

“1. Người nào dùng vũ lực, đe dọa dùng vũ lực hoặc thủ đoạn khác ép buộc người khác phải lao động thuộc một trong các trường hợp sau đây, thì bị phạt tiền từ 50.000.000 đồng đến 200.000.000 đồng, phạt cải tạo không giam giữ đến 03 năm hoặc phạt tù từ 06 tháng đến 03 năm:

a) Đã bị xử phạt vi phạm hành chính về hành vi này hoặc đã bị kết án về tội này, chưa được xóa án tích mà còn vi phạm;

b) Gây thương tích hoặc gây tổn hại cho sức khỏe của 01 người mà tỷ lệ tổn thương cơ thể từ 31% đến 60%;

c) Gây thương tích hoặc gây tổn hại cho sức khỏe của 02 người trở lên mà tổng tỷ lệ tổn thương cơ thể của những người này từ 31% đến 60%.

2. Phạm tội thuộc một trong các trường hợp sau đây, thì bị phạt tù từ 02 năm đến 07 năm:

a) Có tổ chức;

b) Đối với người dưới 16 tuổi, phụ nữ mà biết là có thai, người già yếu, người khuyết tật nặng hoặc khuyết tật đặc biệt nặng;

c) Làm chết người;

d) Gây thương tích hoặc gây tổn hại cho sức khỏe của 01 người mà tỷ lệ tổn thương cơ thể 61% trở lên;

đ) Gây thương tích hoặc gây tổn hại cho sức khỏe của 02 người trở lên mà tổng tỷ lệ tổn thương cơ thể của những người này từ 61% đến 121%;

e) Tái phạm nguy hiểm.

3. Phạm tội thuộc một trong các trường hợp sau đây, thì bị phạt tù từ 05 năm đến 12 năm:

a) Làm chết 02 người trở lên;

b) Gây thương tích hoặc gây tổn hại cho sức khỏe của 02 người trở lên mà tổng tỷ lệ tổn thương cơ thể của những người này 122% trở lên.

4. Người phạm tội còn có thể bị phạt tiền từ 30.000.000 đồng đến 100.000.000 đồng, cấm đảm nhiệm chức vụ, cấm hành nghề hoặc làm công việc nhất định từ 01 năm đến 05 năm”.

Tóm lại, người sử dụng lao động dùng vũ lực, đe dọa dùng vũ lực hoặc các thủ đoạn khác để ép buộc người lao động phải làm việc trái ý muốn của họ có thể bị xử phạt vi phạm hành chính với mức phạt tiền cao nhất là 75.000.000 đồng. Thậm chí, bị phạt tù đến 12 năm.

Hùng Phi

Vũ Thị Thanh Tú

Xem thêm

Luật Sư Việt Nam

Bình luận