Đòi nợ đối với công ty đang lâm vào tình trạng phá sản
Đòi nợ đối với công ty đang lâm vào tình trạng phá sản được quy định như thế nào trong Luật phá sản 2014 và các văn bản pháp luật khác ?
Đòi nợ đối với công ty đang lâm vào tình trạng phá sản
Khái quát về phá sản doanh nghiệp
Khái niệm
Mục đích của thủ tục phá sản
Tính chất của thủ tục phá sản
Quá trình tự phục hồi là giải pháp tổ chức sản xuất kinh doanh được doanh nghiệp chủ động thực hiện.
Phục hồi Doanh nghiệp lâm vào tình trạng phá sản là thủ tục tư pháp, chịu sự giám sát của tòa án và các chủ nợ
Quá trình thanh toán nợ thủ tục thanh toán đòi nợ:
Khái quát
Việc đòi nợ thanh toán nợ mang tính tập thể.
Việc đòi nợ, thanh toán nợ tiến hành thông qua một cơ quan đại diện có thẩm quyền (tòa kinh tế - TAND địa phương nơi doanh nghiệp đăng ký doanh nghiệp)
Thanh toán các khoản nợ được tiến hành trên cơ sở số tài sản còn lại của Doanh nghiệp
Được tiến hành sau khi có quyết định của cơ quan nhà nước có thẩm quyền (Tòa án). Chủ nợ chỉ có thể nhận được số tiền mà con nợ trả khi có quyết định thanh lý tài sản của con nợ của Tòa án.
Xác định giá trị nghĩa vụ về tài sản
Xác định tiền lãi đối với khoản nợ
Trường hợp Thẩm phán ra quyết định đình chỉ tiến hành thủ tục phá sản theo Điều 86 Luật phá sản.
Đình chỉ thủ tục phục hồi hoạt động kinh doanh theo điểm a khoản 1 Điều 95 của Luật này thì việc tạm dừng trả lãi chấm dứt; các bên tiếp tục thực hiện việc trả lãi theo thỏa thuận.
Thứ tự phân chia tài sản
Trường hợp Thẩm phán ra quyết định tuyên bố phá sản thì tài sản của doanh nghiệp, hợp tác xã được phân chia theo thứ tự sau:
Chi phí phá sản;
Khoản nợ lương, trợ cấp thôi việc, bảo hiểm xã hội, bảo hiểm y tế đối với người lao động, quyền lợi khác theo hợp đồng lao động và thỏa ước lao động tập thể đã ký kết;
Khoản nợ phát sinh sau khi mở thủ tục phá sản nhằm mục đích phục hồi hoạt động kinh doanh của doanh nghiệp, hợp tác xã;
Nghĩa vụ tài chính đối với Nhà nước; khoản nợ không có bảo đảm phải trả cho chủ nợ trong danh sách chủ nợ; khoản nợ có bảo đảm chưa được thanh toán do giá trị tài sản bảo đảm không đủ thanh toán nợ.
Trường hợp giá trị tài sản của doanh nghiệp, hợp tác xã sau khi đã thanh toán đủ các khoản quy định tại khoản 1 Điều này mà vẫn còn thì phần còn lại này thuộc về:
Thành viên hợp tác xã, hợp tác xã thành viên;
Chủ doanh nghiệp tư nhân;
Chủ sở hữu công ty trách nhiệm hữu hạn một thành viên;
Thành viên của công ty TNHH 2TV trở lên; cổ đông của CTCP;
Thành viên của Công ty hợp danh.
Nghĩa vụ về tài sản trong trường hợp nghĩa vụ liên đới hoặc bảo lãnh
Nếu nghĩa vụ bảo lãnh phát sinh thì bên bảo lãnh phải thực hiện nghĩa vụ bảo lãnh. Trường hợp bên bảo lãnh không thanh toán đầy đủ trong phạm vi bảo lãnh thì bên nhận bảo lãnh có quyền yêu cầu bên được bảo lãnh thanh toán phần còn thiếu;
Nếu nghĩa vụ bảo lãnh chưa phát sinh thì bên được bảo lãnh phải thay thế biện pháp bảo đảm khác ( trừ trường hợp người được bảo lãnh và người nhận bảo lãnh có thỏa thuận khác).
Trả lại tài sản thuê hoặc mượn khi doanh nghiệp, hợp tác xã bị tuyên bố phá sản
Hợp đồng cho thuê; hoặc cho mượn với cơ quan thi hành án dân sự để nhận lại tài sản của mình.
Trả lại tài sản nhận bảo đảm
Nhận lại hàng hóa đã bán




