📞 Hotline: 0989919161✉️ Email: [email protected]
Giải đáp pháp luật

Công ty yêu cầu nghỉ phép trong thời gian tạm ngừng sản xuất

Trong thời gian phải tạm ngừng hoạt động để phòng chống dịch COVID-19 vừa rồi, Công ty đã yêu cầu nhân viên làm đơn xin nghỉ phép cho những ngày phép chưa nghỉ, được hưởng nguyên lương. Những ngày...

Công ty gặp khó khăn, mọi người đều có ý thức chia sẻ và không ai phàn nàn gì. Tuy vậy, tôi muốn biết, Công ty yêu cầu nghỉ phép và tính lương ngừng việc như là đúng hay sai?

Trả lời

Trước tiên, chúng tôi hoan nghênh việc người lao động và người sử dụng lao động cùng nhau chia sẻ khó khăn, hạn chế ảnh hưởng tiêu cực của đại dịch COVID-19 đối với mỗi người, mỗi doanh nghiệp và cộng đồng.

Hợp đồng lao động là sự thỏa thuận giữa người lao động và người sử dụng lao động về việc làm có trả lương, điều kiện làm việc, quyền và nghĩa vụ của mỗi bên trong quan hệ lao động. Về nguyên tắc, trong quá trình thực hiện, các bên có quyền thỏa thuận để sửa đổi, bổ sung hợp đồng không trái quy định của pháp luật.

Về nội dung bạn đề nghị tư vấn, chúng tôi xin trả lời như sau:

1. Quy định nghỉ phép của người lao động:

Điều 111 Bộ luật Lao động năm 2012 quy định về nghỉ hằng năm (nghỉ phép) như sau:

“1. Người lao động có đủ 12 tháng làm việc cho một người sử dụng lao động thì được nghỉ hằng năm, hưởng nguyên lương theo hợp đồng lao động như sau:

a) 12 ngày làm việc đối với người làm công việc trong điều kiện bình thường;

b) 14 ngày làm việc đối với người làm công việc nặng nhọc, độc hại, nguy hiểm hoặc người làm việc ở những nơi có có điều kiện sinh sống khắc nghiệt theo danh mục do Bộ Lao động - Thương binh và Xã hội chủ trì phối hợp với Bộ Y tế ban hành hoặc lao động chưa thành niên hoặc lao động là người khuyết tật;

c) 16 ngày làm việc đối với người làm công việc đặc biệt nặng nhọc, độc hại, nguy hiểm hoặc người làm việc ở những nơi có điều kiện sinh sống đặc biệt khắc nghiệt theo danh mục do Bộ Lao động - Thương binh và Xã hội chủ trì phối hợp với Bộ Y tế ban hành.

2. Người sử dụng lao động có quyền quy định lịch nghỉ hằng năm sau khi tham khảo ý kiến của người lao động và phải thông báo trước cho người lao động.

3. Người lao động có thể thoả thuận với người sử dụng lao động để nghỉ hằng năm thành nhiều lần hoặc nghỉ gộp tối đa 03 năm một lần.

4. Khi nghỉ hằng năm, nếu người lao động đi bằng các phương tiện đường bộ, đường sắt, đường thủy mà số ngày đi đường cả đi và về trên 02 ngày thì từ ngày thứ 03 trở đi được tính thêm thời gian đi đường ngoài ngày nghỉ hằng năm và chỉ được tính cho 01 lần nghỉ trong năm”.

Theo Điều 112 của Bộ luật này, “cứ 05 năm làm việc cho một người sử dụng lao động thì số ngày nghỉ hằng năm của người lao động theo quy định tại khoản 1 Điều 111 của Bộ luật này được tăng thêm tương ứng 01 ngày”.

Như vậy, nghỉ hằng năm là quyền của người lao động, với điều kiện, số ngày nghỉ và hưởng nguyên lương theo hợp đồng lao động. Người sử dụng lao động có quyền quy định lịch nghỉ hằng năm sau khi tham khảo ý kiến của người lao động và phải thông báo trước cho người lao động. Có thể hiểu, Công ty nơi các bạn làm việc yêu cầu nhân viên nghỉ phép là động thái quy định lịch nghỉ và cũng đã thông báo cho các bạn. Họ làm điều đó khi dịch bệnh diễn biến phức tạp, bắt buộc phải đóng cửa. Tất nhiên, trong điều kiện bình thường, không doanh nghiệp nào lại yêu cầu tất cả nhân viên của mình nghỉ phép cùng một thời điểm như vậy.

Khi nghỉ hằng năm, người lao động được tạm ứng trước một khoản tiền ít nhất bằng tiền lương của những ngày nghỉ. Tiền tàu xe và tiền lương những ngày đi đường do hai bên thoả thuận. Người lao động miền xuôi làm việc ở vùng cao, vùng sâu, vùng xa, biên giới, hải đảo và người lao động ở vùng cao, vùng sâu, vùng xa, biên giới, hải đảo làm việc ở miền xuôi thì được người sử dụng lao động thanh toán tiền tàu xe và tiền lương những ngày đi đường.

2. Về tiền lương ngừng việc

Theo Điều 98 của Bộ luật này, trong trường hợp phải ngừng việc, người lao động được trả lương như sau:

Nếu do lỗi của người sử dụng lao động thì người lao động được trả đủ tiền lương

2. Nếu do lỗi của người lao động thì người đó không được trả lương; những người lao động khác trong cùng đơn vị phải ngừng việc được trả lương theo mức do hai bên thoả thuận nhưng không được thấp hơn mức lương tối thiểu vùng do Chính phủ quy định;

3. Nếu vì sự cố về điện, nước mà không do lỗi của người sử dụng lao động, người lao động hoặc vì các nguyên nhân khách quan khác như thiên tai, hoả hoạn, dịch bệnh nguy hiểm, địch hoạ, di dời địa điểm hoạt động theo yêu cầu của cơ quan nhà nước có thẩm quyền hoặc vì lý do kinh tế, thì tiền lương ngừng việc do hai bên thoả thuận nhưng không được thấp hơn mức lương tối thiểu vùng do Chính phủ quy định”.

Hướng dẫn tiền lương làm căn cứ để trả lương cho người lao động trong thời gian ngừng việc do lỗi của người sử dụng lao động, theo khoản 1 Điều 26 Nghị định 05/2015/NĐ-CP ngày 15/01/2015 của Chính phủ, “là tiền lương ghi trong hợp đồng lao động khi người lao động phải ngừng việc và được tính tương ứng với các hình thức trả lương theo thời gian quy định tại Khoản 1 Điều 22 Nghị định này”.

Nếu do lỗi của người lao động thì người đó không được trả lương. Trường hợp ngừng việc của các bạn do nguyên nhân khách quan là dịch bệnh COVID-19, không phải lỗi của một trong hai bên thì tiền lương ngừng việc do hai bên thoả thuận nhưng không được thấp hơn mức lương tối thiểu vùng do Chính phủ quy định.

Bạn đối chiếu quy định nêu trên để xác định khoản tiền cố định mà Công ty trả cho mỗi người lao động trong bối cảnh ngừng việc này. Thỏa thuận có thể là họ đề nghị và các bạn đồng ý, với điều kiện không thấp hơn mức lương tối thiểu vùng do Chính phủ quy định.

Hùng Phi

Vũ Thị Thanh Tú

Xem thêm

Luật Sư Việt Nam

Bình luận