Có được cấp lại bản chính Giấy chứng nhận kết hôn không?
Do chuyển nhà nhiều lần, vợ chồng tôi làm mất tất cả Giấy chứng nhận kết hôn. Nay chúng tôi có việc cần phải xuất trình bản chính Giấy chứng nhận kết hôn. Xin hỏi tôi có được xin cấp lại bản chính...
Do chuyển nhà nhiều lần, vợ chồng tôi làm mất tất cả Giấy chứng nhận kết hôn. Nay chúng tôi có việc cần phải xuất trình bản chính Giấy chứng nhận kết hôn. Xin hỏi tôi có được xin cấp lại bản chính Giấy chứng nhận kết hôn không? Thủ tục như thế nào?
(Thanh Thủy - Hai Bà Trưng)
Trả lời:
Hiện nay pháp luật hộ tịch không có quy định cấp lại bản chính Giấy chứng nhận kết hôn. Do vậy, yêu cầu của bạn muốn cấp lại bản chính Giấy chứng nhận kết hôn sẽ không được giải quyết. Tuy nhiên, tùy từng trường hợp cụ thể bạn có thể được cấp bản sao Giấy chứng nhận kết hôn hoặc làm thủ tục đăng ký lại kết hôn nếu bạn thuộc một trong các trường hợp sau:
Trường hợp thứ nhất: Ủy ban nhân dân nơi bạn đã đăng ký kết hôn trước đây còn lưu trữ Sổ đăng ký kết hôn.
Trong trường hợp này, bạn được cấp bản sao trích lục Giấy chứng nhận kết hôn theo quy định tại Điều 63 Luật Hộ tịch. Cụ thể, Điều 63 Luật Hộ tịch quy định: “Cá nhân không phụ thuộc vào nơi cư trú có quyền yêu cầu Cơ quan quản lý Cơ sở dữ liệu hộ tịch cấp bản sao trích lục hộ tịch về sự kiện hộ tịch của mình đã được đăng ký”.
Thủ tục cấp bản sao trích lục Giấy chứng nhận kết hôn được quy định tại Điều 64 Luật Hộ tịch như sau:
“Điều 64. Thủ tục cấp bản sao trích lục hộ tịch
1. Người yêu cầu cấp bản sao trích lục hộ tịch trực tiếp hoặc thông qua người đại diện gửi tờ khai theo mẫu quy định cho Cơ quan quản lý Cơ sở dữ liệu hộ tịch.
Trường hợp cơ quan, tổ chức có thẩm quyền đề nghị cấp bản sao trích lục hộ tịch của cá nhân thì gửi văn bản yêu cầu nêu rõ lý do cho Cơ quan quản lý Cơ sở dữ liệu hộ tịch.
2. Ngay sau khi nhận được yêu cầu, nếu đủ điều kiện thì Cơ quan quản lý Cơ sở dữ liệu hộ tịch cấp bản sao trích lục hộ tịch cho người yêu cầu”.
Bạn cần lưu ý, theo quy định tại khoản 1 Điều 3 Nghị định số 23/2015/NĐ-CP ngày 16/02/2015 về giá trị pháp lý của bản sao được cấp từ sổ gốc thì “Bản sao được cấp từ sổ gốc có giá trị sử dụng thay cho bản chính trong các giao dịch, trừ trường hợp pháp luật có quy định khác.”. Như vậy, bạn có thể sử dụng bản sao Giấy chứng nhận kết hôn thay cho bản chính để thực hiện các giao dịch.
Trường hợp thứ hai: Ủy ban nhân dân nơi bạn đã đăng ký kết hôn trước đây không lưu trữ Sổ đăng ký kết hôn.
Trong trường hợp này, theo khoản 1 Điều 24 Nghị định số 123/2015/NĐ-CP ngày 15/11/2015 của Chính phủ quy định chi tiết một số điều và biện pháp thi hành Luật Hộ tịch (Nghị định số 123/2015/NĐ-CP), quy định: “Việc khai sinh, kết hôn, khai tử đã được đăng ký tại cơ quan có thẩm quyền của Việt Nam trước ngày 01 tháng 01 năm 2016 nhưng Sổ hộ tịch và bản chính giấy tờ hộ tịch đều bị mất thì được đăng ký lại.”
Như vậy, bạn có thể đăng ký lại việc kết hôn để được cấp bản chính Giấy chứng nhận kết hôn.
Về thẩm quyền đăng ký lại kết hôn, khoản 1 Điều 25 Nghị định số 123/2015/NĐ-CP quy định:
“Điều 25. Thẩm quyền đăng ký lại khai sinh, kết hôn, khai tử
1. Ủy ban nhân dân cấp xã, nơi đã đăng ký khai sinh, kết hôn trước đây hoặc Ủy ban nhân dân cấp xã nơi người yêu cầu thường trú, thực hiện đăng ký lại khai sinh, kết hôn”.
Theo quy định này thì vợ chồng bạn có thể lựa chọn cơ quan đăng ký lại kết hôn là UBND cấp xã nơi đã đăng ký kết hôn trước đây hoặc UBND cấp xã nơi hiện nay các bạn thường trú.
Về thủ tục đăng ký lại kết hôn, Điều 27 Nghị định số 123/2015/NĐ-CP quy định cụ thể như sau:
“Điều 27. Thủ tục đăng ký lại kết hôn
1. Hồ sơ đăng ký lại kết hôn gồm các giấy tờ sau:
a) Tờ khai theo mẫu quy định;
b) Bản sao Giấy chứng nhận kết hôn được cấp trước đây. Nếu không có bản sao Giấy chứng nhận kết hôn thì nộp bản sao hồ sơ, giấy tờ cá nhân có các thông tin liên quan đến nội dung đăng ký kết hôn.
2. Trong thời hạn 05 ngày làm việc, kể từ ngày tiếp nhận hồ sơ, công chức tư pháp - hộ tịch kiểm tra, xác minh hồ sơ. Nếu thấy hồ sơ đăng ký lại kết hôn là đầy đủ, chính xác, đúng quy định pháp luật thì công chức tư pháp - hộ tịch thực hiện đăng ký lại kết hôn như trình tự quy định tại Khoản 2 Điều 18 của Luật Hộ tịch.
Nếu việc đăng ký lại kết hôn thực hiện tại Ủy ban nhân dân cấp xã không phải là nơi đã đăng ký kết hôn trước đây thì công chức tư pháp - hộ tịch báo cáo Chủ tịch Ủy ban nhân dân có văn bản đề nghị Ủy ban nhân dân nơi đăng ký kết hôn trước đây kiểm tra, xác minh về việc lưu giữ sổ hộ tịch tại địa phương.
Trong thời hạn 05 ngày làm việc, kể từ ngày nhận được văn bản đề nghị, Ủy ban nhân dân nơi đã đăng ký kết hôn trước đây tiến hành kiểm tra, xác minh và trả lời bằng văn bản về việc còn lưu giữ hoặc không lưu giữ được sổ hộ tịch.
3. Trong thời hạn 03 ngày làm việc, kể từ ngày nhận được kết quả xác minh về việc không còn lưu giữ được sổ hộ tịch tại nơi đã đăng ký kết hôn, nếu thấy hồ sơ đầy đủ, chính xác, đúng quy định pháp luật công chức tư pháp - hộ tịch thực hiện việc đăng ký lại kết hôn như quy định tại Khoản 2 Điều này”.
Admin PBGDPL