Có được đăng ký khai sinh cho con theo họ mẹ?
Chúng tôi kết hôn năm 2013, đến đầu năm 2016 tôi có thai lần 1. Thời điểm này giữa chúng tôi xảy ra mâu thuẫn sâu sắc, nên chúng tôi quyết định sống li thân. Đầu tháng 10 vừa rồi tôi...
Chúng tôi kết hôn năm 2013, đến đầu năm 2016 tôi có thai lần 1. Thời điểm này giữa chúng tôi xảy ra mâu thuẫn sâu sắc, nên chúng tôi quyết định sống li thân. Đầu tháng 10 vừa rồi tôi sinh con và mong muốn con tôi được mang họ mẹ khi đăng ký khai sinh. Xin hỏi tôi có được làm khai sinh cho con theo họ của tôi không? Thủ tục cần những gì ?
Trả lời:
Điểm a khoản 1 Điều 4 Nghị định số 123/2015/NĐ-CP ngày 15/11/2015 của Chính phủ quy định về xác định nội dung đăng ký khai sinh, khai tử: “1. Nội dung khai sinh được xác định theo quy định tại Khoản 1 Điều 14 của Luật Hộ tịch và quy định sau đây:
a) Họ, chữ đệm, tên và dân tộc của trẻ em được xác định theo thỏa thuận của cha, mẹ theo quy định của pháp luật dân sự và được thể hiện trong Tờ khai đăng ký khai sinh; trường hợp cha, mẹ không có thỏa thuận hoặc không thỏa thuận được, thì xác định theo tập quán;”
Như vậy, theo quy định của pháp luật nói trên thì trong mọi trường hợp khi đăng ký khai sinh cho con, hoàn toàn có thể đăng ký theo họ cha hoặc họ mẹ miễn là theo đúng sự thỏa thuận của cha mẹ hoặc theo đúng phong tục tập quán nơi cha mẹ của trẻ sinh sống.
Đối với trường hợp của chị, chị có thể khai sinh cho con theo họ của mình sau khi đã thỏa thuận thống nhất với cha của cháu bé.
Về hồ sơ đăng ký khai sinh được quy định tại khoản 1 Điều 16 Luật Hộ tịch, cụ thể như sau:
“1. Người đi đăng ký khai sinh nộp tờ khai theo mẫu quy định và giấy chứng sinh cho cơ quan đăng ký hộ tịch. Trường hợp không có giấy chứng sinh thì nộp văn bản của người làm chứng xác nhận về việc sinh; nếu không có người làm chứng thì phải có giấy cam đoan về việc sinh; trường hợp khai sinh cho trẻ em bị bỏ rơi phải có biên bản xác nhận việc trẻ bị bỏ rơi do cơ quan có thẩm quyền lập; trường hợp khai sinh cho trẻ em sinh ra do mang thai hộ phải có văn bản chứng minh việc mang thai hộ theo quy định pháp luật.”
Ngoài ra, tại Điều 2 Nghị định số 123/2015/NĐ-CP ngày 15/11/2015 của Chính phủ quy định về xuất trình, nộp giấy tờ khi đăng ký hộ tịch thì: “1. Người yêu cầu đăng ký hộ tịch, cấp bản sao trích lục hộ tịch xuất trình bản chính một trong các giấy tờ là hộ chiếu, chứng minh nhân dân, thẻ căn cước công dân hoặc giấy tờ khác có dán ảnh và thông tin cá nhân do cơ quan có thẩm quyền cấp, còn giá trị sử dụng (sau đây gọi là giấy tờ tùy thân) để chứng minh về nhân thân.
Trong giai đoạn chuyển tiếp, người yêu cầu đăng ký hộ tịch phải xuất trình giấy tờ chứng minh nơi cư trú.
2. Người yêu cầu đăng ký khai sinh phải nộp bản chính Giấy chứng sinh hoặc giấy tờ thay Giấy chứng sinh theo quy định tại Khoản 1 Điều 16 của Luật Hộ tịch; đăng ký khai tử phải nộp bản chính Giấy báo tử hoặc giấy tờ thay Giấy báo tử theo quy định tại Khoản 1 Điều 34 của Luật Hộ tịch và tại Khoản 2 Điều 4 của Nghị định này; đăng ký kết hôn phải nộp bản chính Giấy xác nhận tình trạng hôn nhân theo quy định tại Mục 3 Chương III của Nghị định này.”
Tại khoản 2 Điều 9 Nghị định số 123/2015/NĐ-CP ngày 15/11/2015 của Chính phủ quy định: “Trường hợp cha, mẹ của trẻ đã đăng ký kết hôn thì còn phải xuất trình giấy chứng nhận kết hôn.”
Sau khi có đủ các giấy tờ trên, chị có thể đến nộp trực tiếp hoặc gửi hồ sơ qua hệ thống bưu chính hoặc gửi hồ sơ theo hệ thống đăng ký hộ tịch trực tuyến (theo Điều 3 Nghị định số 123/2015/NĐ-CP) đến UBND cấp xã nơi cư trú của người cha hoặc người mẹ thực hiện đăng ký khai sinh.
Admin Admin Admin