📞 Hotline: 0989919161✉️ Email: [email protected]
Giải đáp pháp luật

Có được đăng ký khai sinh cho con theo họ, dân tộc và quê quán của mẹ

Vợ chồng tôi mới sinh con gái đầu lòng và chúng tôi muốn đăng ký khai sinh cho cháu với họ, dân tộc và quê quán theo mẹ. Tôi có quê quán Hà Nội, dân tộc kinh, còn chồng tôi dân tộc Tày, quê quán ở...

Trả lời:

Khoản 2, Điều 26 Bộ luật Dân sự năm 2015 quy định quyền có họ, tên như sau:

“2. Họ của cá nhân được xác định là họ của cha đẻ hoặc họ của mẹ đẻ theo thỏa thuận của cha mẹ; nếu không có thỏa thuận thì họ của con được xác định theo tập quán. Trường hợp chưa xác định được cha đẻ thì họ của con được xác định theo họ của mẹ đẻ.”

Tại khoản 2, Điều 29 của Bộ luật này quy định quyền xác định, xác định lại dân tộc như sau:

“2. Cá nhân khi sinh ra được xác định dân tộc theo dân tộc của cha đẻ, mẹ đẻ. Trường hợp cha đẻ, mẹ đẻ thuộc hai dân tộc khác nhau thì dân tộc của con được xác định theo dân tộc của cha đẻ hoặc mẹ đẻ theo thỏa thuận của cha đẻ, mẹ đẻ; trường hợp không có thỏa thuận thì dân tộc của con được xác định theo tập quán; trường hợp tập quán khác nhau thì dân tộc của con được xác định theo tập quán của dân tộc ít người hơn.”

Khoản 2, Điều 14 Luật Hộ tịch quy định nội dung đăng ký khai sinh như sau:

“2. Việc xác định quốc tịch, dân tộc, họ của người được khai sinh được thực hiện theo quy định của pháp luật về quốc tịch Việt Nam và pháp luật dân sự.”

Tại khoản 8, Điều 4 Luật Hộ tịch quy định quê quán như sau:

“8. Quê quán của cá nhân được xác định theo quê quán của cha hoặc mẹ theo thỏa thuận của cha, mẹ hoặc theo tập quán được ghi trong tờ khai khi đăng ký khai sinh.”

Tại khoản 1, Điều 4 Nghị định số 123/2015/NĐ-CP ngày 15 tháng 11 năm 2015 của Chính phủ quy định chi tiết một số điều và biện pháp thi hành Luật hộ tịch quy định nội dung đăng ký khai sinh như sau:

“1. Nội dung đăng ký khai sinh được xác định theo quy định tại Khoản 1 Điều 14 của Luật Hộ tịch và quy định sau đây:

a) Họ, chữ đệm, tên và dân tộc của trẻ em được xác định theo thỏa thuận của cha, mẹ theo quy định của pháp luật dân sự và được thể hiện trong Tờ khai đăng ký khai sinh; trường hợp cha, mẹ không có thỏa thuận hoặc không thỏa thuận được, thì xác định theo tập quán;

b) Quốc tịch của trẻ em được xác định theo quy định của pháp luật về quốc tịch;

c) Số định danh cá nhân của người được đăng ký khai sinh được cấp khi đăng ký khai sinh. Thủ tục cấp số định danh cá nhân được thực hiện theo quy định của Luật Căn cước công dân và Nghị định quy định chi tiết thi hành Luật Căn cước công dân, trên cơ sở bảo đảm đồng bộ với Luật Hộ tịch và Nghị định này;

d) Ngày, tháng, năm sinh được xác định theo Dương lịch. Nơi sinh, giới tính của trẻ em được xác định theo Giấy chứng sinh do cơ sở y tế có thẩm quyền cấp; trường hợp không có Giấy chứng sinh thì xác định theo giấy tờ thay Giấy chứng sinh theo quy định tại Khoản 1 Điều 16 của Luật Hộ tịch.

Đối với trẻ em sinh tại cơ sở y tế thì nơi sinh phải ghi rõ tên của cơ sở y tế và tên đơn vị hành chính cấp xã, huyện, tỉnh nơi có cơ sở y tế đó; trường hợp trẻ em sinh ngoài cơ sở y tế thì ghi rõ tên đơn vị hành chính cấp xã, huyện, tỉnh nơi trẻ em sinh ra.

đ) Quê quán của người được đăng ký khai sinh được xác định theo quy định tại Khoản 8 Điều 4 của Luật Hộ tịch.

Như vậy, căn cứ các quy định của pháp luật nêu trên thì nguyện vọng của vợ chồng bạn muốn lựa chọn họ, dân tộc và quê quán cho con theo mẹ khi đăng ký khai sinh cho cháu là hoàn toàn phù hợp và sẽ được giải quyết theo quy định của pháp luật về hộ tịch.

Nguyễn Tuân

Nguyễn Sỹ Tuấn

Luật Sư Việt Nam

Bình luận