Có được đăng ký kết hôn lưu động?
Tôi và anh A đã nộp hồ sơ đăng ký kết hôn tại UBND xã nơi tôi có hộ khẩu thường trú (anh A hiện đang thường trú ở huyện khác). Đến ngày hẹn trả kết quả thì anh A bị ốm nên không thể có mặt tại UBND...
Xin hỏi chúng tôi có thuộc trường hợp được đăng ký kết hôn lưu động không? Trường hợp không được thì anh A có thể ủy quyền cho tôi đến nhận Giấy chứng nhận kết hôn của cả hai vợ chồng không?
Trả lời:
- Đối với vấn đề bạn hỏi về việc có thuộc trường hợp được đăng ký kết hôn lưu động hay không: Khoản 1, Điều 24 Thông tư số 04/2020/TT-BTP ngày 28/5/2020 của Bộ Tư pháp quy định chi tiết thi hành một số điều của Luật hộ tịch và Nghị định số 123/2015/NĐ-CP ngày 15 tháng 11 năm 2015 của Chính phủ quy định chi tiết một số điều và biện pháp thi hành Luật hộ tịch (viết gọn là Thông tư số 04/2020/TT-BTP) quy định các trường hợp đăng ký khai sinh, khai tử, kết hôn lưu động như sau:
“Trường hợp hai bên nam, nữ cùng thường trú trên địa bàn cấp xã mà một hoặc cả hai bên nam, nữ là người khuyết tật, ốm bệnh không thể đi đăng ký kết hôn được thì Ủy ban nhân dân cấp xã tiến hành đăng ký kết hôn lưu động.”
Theo quy định trên, bạn và anh A không cùng thường trú trên địa bàn cấp xã nên các bạn không thuộc trường hợp được đăng ký kết hôn lưu động.
- Anh A có thể ủy quyền cho bạn đến nhận Giấy chứng nhận kết hôn của cả hai vợ chồng không: Căn cứ khoản 1, Điều 2 Thông tư số 04/2020/TT-BTP quy định: “Người yêu cầu cấp bản sao trích lục hộ tịch, cấp Giấy xác nhận tình trạng hôn nhân, yêu cầu đăng ký các việc hộ tịch theo quy định tại Điều 3 Luật hộ tịch (sau đây gọi là yêu cầu đăng ký hộ tịch) được uỷ quyền cho người khác thực hiện thay; trừ trường hợp đăng ký kết hôn, đăng ký lại việc kết hôn, đăng ký nhận cha, mẹ, con thì không được ủy quyền cho người khác thực hiện, nhưng một bên có thể trực tiếp nộp hồ sơ tại cơ quan đăng ký hộ tịch có thẩm quyền, không phải có văn bản ủy quyền của bên còn lại.”.
Mặt khác tại khoản 5 Điều 3 Thông tư số 04/2020/TT-BTP quy định: “Khi trả kết quả đăng ký kết hôn, đăng ký lại kết hôn, cả hai bên nam, nữ phải có mặt;…”.
Tại Điều 18 Luật Hộ tịch quy định về Thủ tục đăng ký kết hôn như sau: “Hai bên nam, nữ nộp tờ khai đăng ký kết hôn theo mẫu quy định cho cơ quan đăng ký hộ tịch và cùng có mặt khi đăng ký kết hôn.
Ngay sau khi nhận đủ giấy tờ theo quy định tại khoản 1 Điều này, nếu thấy đủ điều kiện kết hôn theo quy định của Luật hôn nhân và gia đình, công chức tư pháp - hộ tịch ghi việc kết hôn vào Sổ hộ tịch, cùng hai bên nam, nữ ký tên vào Sổ hộ tịch. Hai bên nam, nữ cùng ký vào Giấy chứng nhận kết hôn; công chức tư pháp - hộ tịch báo cáo Chủ tịch Ủy ban nhân dân cấp xã tổ chức trao Giấy chứng nhận kết hôn cho hai bên nam, nữ”.
Như vậy, theo các quy định trên thì việc đăng ký kết hôn thuộc trường hợp không được ủy quyền. Khi đăng ký kết hôn cả hai bên nam, nữ phải có mặt là yêu cầu bắt buộc. Trường hợp anh A bị ốm không thể đến đăng ký kết hôn theo ngày hẹn của UBND xã thì bạn có thể đề nghị UBND xã bố trí ngày khác để thực hiện đăng ký kết hôn theo quy định.
Tuấn Đạt
Nguyễn Sỹ Tuấn