Có phải tặng cho các con phần tài sản bằng nhau hay không?
Vì mẹ em chỉ sinh được con gái và một vài lý do khác, bố em nhất quyết đòi ly hôn, chúng em ở với mẹ. Ngay sau đó, bố em lấy người khác và họ có với nhau một con trai. Em được biết, bố em đã...
Vì mẹ em chỉ sinh được con gái và một vài lý do khác, bố em nhất quyết đòi ly hôn, chúng em ở với mẹ.
Ngay sau đó, bố em lấy người khác và họ có với nhau một con trai. Em được biết, bố em đã đến văn phòng công chứng làm thủ tục cho tặng hết tài sản của ông cho người con trai này.
Xin hỏi các anh chị, bố em có bắt buộc phải cho chúng em một phần tài sản của ông hay không?
Trả lời
Quyền sở hữu bao gồm quyền chiếm hữu, quyền sử dụng và quyền định đoạt tài sản của chủ sở hữu theo quy định của luật. Trong đó, theo Điều 192 Bộ luật Dân sự năm 2015, “quyền định đoạt là quyền chuyển giao quyền sở hữu tài sản, từ bỏ quyền sở hữu, tiêu dùng hoặc tiêu hủy tài sản”.
Điều 194 của Bộ luật này quy định: “Chủ sở hữu có quyền bán, trao đổi, tặng cho, cho vay, để thừa kế, từ bỏ quyền sở hữu, tiêu dùng, tiêu hủy hoặc thực hiện các hình thức định đoạt khác phù hợp với quy định của pháp luật đối với tài sản”.
Căn cứ quy định nêu trên, với tư cách chủ sở hữu tài sản, bố của bạn có quyền định đoạt đối với số tài sản của mình thông qua việc tặng cho người khác.
Hợp đồng tặng cho tài sản, theo Điều 457 Bộ luật Dân sự năm 2015, “là sự thỏa thuận giữa các bên, theo đó bên tặng cho giao tài sản của mình và chuyển quyền sở hữu cho bên được tặng cho mà không yêu cầu đền bù, bên được tặng cho đồng ý nhận”.
Hợp đồng tặng cho động sản có hiệu lực kể từ thời điểm bên được tặng cho nhận tài sản, trừ trường hợp có thỏa thuận khác. Đối với động sản mà luật có quy định đăng ký quyền sở hữu thì hợp đồng tặng cho có hiệu lực kể từ thời điểm đăng ký.
Tặng cho bất động sản phải được lập thành văn bản có công chứng, chứng thực hoặc phải đăng ký, nếu bất động sản phải đăng ký quyền sở hữu theo quy định của luật. Hợp đồng tặng cho bất động sản có hiệu lực kể từ thời điểm đăng ký; nếu bất động sản không phải đăng ký quyền sở hữu thì hợp đồng tặng cho có hiệu lực kể từ thời điểm chuyển giao tài sản.
Với quyền định đoạt của chủ sở hữu, khi hợp đồng tặng cho có hiệu lực pháp luật, tài sản của bố bạn sẽ được chuyển giao quyền sở hữu cho người con trai. Đồng nghĩa, về nguyên tắc bố của bạn không buộc phải tặng tài sản cho các bạn, dù các bạn cũng là con đẻ của ông.
Tuy vậy, pháp luật hiện nay cũng quy định một số trường hợp bố của bạn phải thực hiện trách nhiệm của cha đối với con. Ví dụ:
Theo khoản 1 Điều 81 Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014, “sau khi ly hôn, cha mẹ vẫn có quyền, nghĩa vụ trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục con chưa thành niên, con đã thành niên mất năng lực hành vi dân sự hoặc không có khả năng lao động và không có tài sản để tự nuôi mình theo quy định của Luật này, Bộ luật dân sự và các luật khác có liên quan”.
Điều 82 của Luật này quy định về nghĩa vụ, quyền của cha, mẹ không trực tiếp nuôi con sau khi ly hôn như sau:
“1. Cha, mẹ không trực tiếp nuôi con có nghĩa vụ tôn trọng quyền của con được sống chung với người trực tiếp nuôi.
2. Cha, mẹ không trực tiếp nuôi con có nghĩa vụ cấp dưỡng cho con.
3. Sau khi ly hôn, người không trực tiếp nuôi con có quyền, nghĩa vụ thăm nom con mà không ai được cản trở.
Cha, mẹ không trực tiếp nuôi con lạm dụng việc thăm nom để cản trở hoặc gây ảnh hưởng xấu đến việc trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục con thì người trực tiếp nuôi con có quyền yêu cầu Tòa án hạn chế quyền thăm nom con của người đó”.
Cấp dưỡng là việc một người có nghĩa vụ đóng góp tiền hoặc tài sản khác để đáp ứng nhu cầu thiết yếu của người không sống chung với mình mà có quan hệ hôn nhân, huyết thống hoặc nuôi dưỡng trong trường hợp người đó là người chưa thành niên, người đã thành niên mà không có khả năng lao động và không có tài sản để tự nuôi mình hoặc người gặp khó khăn, túng thiếu theo quy định của Luật Hôn nhân và gia đình.
Tóm lại, bố, mẹ không trực tiếp nuôi con sau ly hôn phải thực hiện trách nhiệm trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục con chưa thành niên, con đã thành niên mất năng lực hành vi dân sự hoặc không có khả năng lao động và không có tài sản để tự nuôi mình. Đặc biệt, khi đã có quyết định của Tòa án về yêu cầu cấp dưỡng mà trốn tránh nghĩa vụ, người vi phạm có thể bị xử phạt vi phạm hành chính, thậm chí có thể bị xử lý trách nhiệm hình sự theo quy định của pháp luật.
Admin Admin Admin