📞 Hotline: 0989919161✉️ Email: [email protected]
Giải đáp pháp luật

Có cần đăng ký công bố tác phẩm mới có quyền tác giả?

Bạn Mai vẽ một bức tranh rất đẹp và đăng lên Instagram. Một tháng sau, Mai phát hiện có một cửa hàng thời trang online đã in bức tranh của mình lên áo thun để bán, mà không hề hỏi ý kiến hay trả...

  • Khi Mai hỏi, đại diện cửa hàng thời trang cho rằng vì bức tranh chưa đăng ký quyền tác giả nên họ có quyền sử dụng. Xin hỏi, bức tranh của Mai có cần đăng ký quyền tác giả mới có quyền tác giả đối với bức tranh? Hành vi của cửa hàng có phải là hành vi vi phạm pháp luật? Trả lời: Tại khoản 2 Điều 4 Luật Sở hữu trí tuệ 2005 (sửa đổi Luật Sở hữu trí tuệ 2009) quy định quyền tác giả là quyền của tổ chức, cá nhân đối với tác phẩm do mình sáng tạo ra hoặc có quyền sở hữu. Tại khoản 7 Điều 4 Luật Sở hữu trí tuệ 2005 (sửa đổi Luật Sở hữu trí tuệ 2009) quy định như sau: “.Tác phẩm là sản phẩm sáng tạo trong lĩnh vực văn học, nghệ thuật và khoa học thể hiện bằng bất kỳ phương tiện hay hình thức nào.” Theo khoản 2 Điều 4 Luật Sở hữu trí tuệ năm 2005, sửa đổi năm 2009, quyền tác giả được định nghĩa là quyền của tổ chức, các nhân đối với tác phẩm do chính họ sáng tạo ra hoặc sở hữu. Căn cứ khoản 1 Điều 6 Luật này, quyền tác giả phát sinh kể từ khi tác phẩm được sáng tạo và được thể hiện d­ưới một hình thức vật chất nhất định, không phân biệt nội dung, chất l­ượng, hình thức, phương tiện, ngôn ngữ mà không cần quan tâm tác phẩm đã công bố hay ch­ưa công bố, đã đăng ký hay ch­ưa đăng ký với cơ quan có thẩm quyền. Như vậy, ngay khi tác phẩm được sáng tạo, ra đời và tồn tại dưới hình thức có thể nhận biết được thì quyền tác giả cũng đồng thời phát sinh luôn từ thời điểm đó. Bức tranh của Mai phát sinh quyền tác giả từ thời điểm Mai vẽ xong bức tranh đó. Tai Điều 18, Đièu 19, Điều 20 Luật Sở hữu trí tuệ quy định như sau: Điều 18. Quyền tác giả Quyền tác giả đối với tác phẩm quy định tại Luật này bao gồm quyền nhân thân và quyền tài sản. Điều 19. Quyền nhân thân
    Quyền nhân thân bao gồm:
    1. Đặt tên cho tác phẩm.
    Tác giả có quyền chuyển quyền sử dụng quyền đặt tên tác phẩm cho tổ chức, cá nhân nhận chuyển giao quyền tài sản quy định tại khoản 1 Điều 20 của Luật này;
    2. Đứng tên thật hoặc bút danh trên tác phẩm; được nêu tên thật hoặc bút danh khi tác phẩm được công bố, sử dụng;
    3. Công bố tác phẩm hoặc cho phép người khác công bố tác phẩm;
    4. Bảo vệ sự toàn vẹn của tác phẩm không cho người khác xuyên tạc; không cho người khác sửa đổi, cắt xén tác phẩm dưới bất kỳ hình thức nào gây phương hại đến danh dự và uy tín của tác giả. Điều 20. Quyền tài sản 1. Quyền tài sản bao gồm các quyền sau đây: a) Làm tác phẩm phái sinh; b) Biểu diễn tác phẩm trước công chúng; c) Sao chép tác phẩm; d) Phân phối, nhập khẩu bản gốc hoặc bản sao tác phẩm; đ) Truyền đạt tác phẩm đến công chúng bằng phương tiện hữu tuyến, vô tuyến, mạng thông tin điện tử hoặc bất kỳ phương tiện kỹ thuật nào khác; e) Cho thuê bản gốc hoặc bản sao tác phẩm điện ảnh, chương trình máy tính. 2. Các quyền quy định tại khoản 1 Điều này do tác giả, chủ sở hữu quyền tác giả độc quyền thực hiện hoặc cho phép người khác thực hiện theo quy định của Luật này. 3. Tổ chức, cá nhân khi khai thác, sử dụng một, một số hoặc toàn bộ các quyền quy định tại khoản 1 Điều này và khoản 3 Điều 19 của Luật này phải xin phép và trả tiền nhuận bút, thù lao, các quyền lợi vật chất khác cho chủ sở hữu quyền tác giả. Như vậy, theo quy định trên , khi một tác phẩm được sáng tạo ra (ví dụ như bức tranh của Mai), người sáng tạo (tức là tác giả) mặc nhiên có quyền tác giả đối với tác phẩm đó, bao gồm quyền nhân thân và quyền tài sản như điều luật đã nêu ở trên. Cửa hàng thời trang nói trên đã vi phạm "quyền tác giả" khi tự ý sao chép và kinh doanh tác phẩm của Mai để thu lợi. Việc bạn Chi đăng bức tranh công khai không có nghĩa là cho phép người khác sử dụng miễn phí cho mục đích thương mại. Hành vi của cửa hàng thời trang là hành vi vi phạm pháp luật. Tại Điều 18 Nghị định số 131/2013/NĐ-CP ngày 16/10/2013 quy định xử phạt vi phạm hành chính về quyền tác giả, quyền liên quan quy định phạt tiền từ 15.000.000 đồng đến 35.000.000 đồng đối với cá nhân, từ 30.000.000 đồng đến 70.000.000 đồng đối với tổ chức có hành vi sao chép tác phẩm mà không được phép của chủ sở hữu quyền tác giả và buộc dỡ bỏ bản sao tác phẩm vi phạm dưới hình thức điện tử, trên môi trường mạng và kỹ thuật số hoặc buộc tiêu hủy tang vật.
  • Hùng Phi

Vũ Thị Thanh Tú

Luật Sư Việt Nam

Bình luận