📞 Hotline: 0989919161✉️ Email: [email protected]
Giải đáp pháp luật

Chưa ly hôn mà có con với người khác thì đăng ký khai sinh như thế nào?

3 năm trước tôi đã đăng ký kết hôn với một người Việt kiều. Do thời gian chung sống với nhau không nhiều (tôi ở Việt Nam còn anh thì thỉnh thoảng về Việt Nam thăm tôi) và tình cảm ngày càng nhạt...

3 năm trước tôi đã đăng ký kết hôn với một người Việt kiều. Do thời gian chung sống với nhau không nhiều (tôi ở Việt Nam còn anh thì thỉnh thoảng về Việt Nam thăm tôi) và tình cảm ngày càng nhạt phai nên hơn 1 năm trước chúng tôi chia tay nhưng chưa làm thủ tục ly hôn. Vừa qua, tôi tổ chức đám cưới với một người khác và hiện đã có thai với người đó. Tôi xin hỏi sau này sinh con, tôi muốn con được mang họ của người chồng bây giờ tôi đang chung sống có được không và nếu được thì tôi cần làm gì?

Trả lời:

Việc chị chưa ly hôn với chồng mà lại chung sống với người đàn ông khác và có con với người đó là vi phạm pháp luật về hôn nhân và gia đình. Luật Hôn nhân và Gia đình cũng như Bộ luật hình sự nghiêm cấm người đang có vợ hoặc có chồng lại chung sống với người khác như vợ chồng. Tùy theo tính chất và mức độ mà hành vi này có thể bị xử phạt hành chính hoặc chịu trách nhiệm hình sự.

Ngoài ra, theo quy định tại Điều 88 Luật Hôn nhân và Gia đình 2014 thì “Con sinh ra trong thời kỳ hôn nhân hoặc do người vợ có thai trong thời kỳ hôn nhân là con chung của vợ chồng” và “Trong trường hợp cha, mẹ không thừa nhận con thì phải có chứng cứ và phải được Tòa án xác định”. Như vậy, đối với trường hợp của chị, do chị chưa ly hôn với chồng nên con của chị được coi là con chung của 2 vợ chồng. Trường hợp người chồng hợp pháp không yêu cầu Tòa án xác định đứa bé không phải là con mình thì sau khi sinh ra, về mặt pháp lý, đứa bé được coi là con của người chồng hợp pháp và khi đăng ký khai sinh, cháu phải mang họ của người này.

Vì vậy, để chứng minh đứa bé không phải con chung của 2 vợ chồng, trên cơ sở đó, đăng ký khai sinh cho cháu mang họ của người chồng bây giờ thì chị cần cung cấp chứng cứ chứng minh và yêu cầu Tòa án xác định đứa bé trong bụng chị là con riêng của chị (không phải con chung trong thời kỳ hôn nhân). Cụ thể, theo quy định tại điểm b Mục 5 Nghị quyết 02/2000/NQ-HĐTP hướng dẫn Luật hôn nhân và gia đình năm 2000 về việc xác định cha, mẹ (vẫn còn hiệu lực) thì: “ Theo quy định tại khoản 2 Điều 63 và Điều 64, khi có người yêu cầu Toà án xác định một người nào đó là con của họ hay không phải là con của họ thì phải có chứng cứ; do đó về nguyên tắc người có yêu cầu phải cung cấp chứng cứ. Trong trường hợp cần thiết thì phải giám định gien. Người có yêu cầu giám định gien phải nộp lệ phí giám định gien”.

Trên cơ sở bản án/quyết định của Tòa án về việc xác định cha, mẹ, con, chị có thể làm thủ tục khai sinh cho con theo quy định tại Điều 13, Điều 16 và thủ tục cha nhận con theo quy định tại Điều 24, Điều 25 Luật hộ tịch và Điều 11, Điều 12 Thông tư 15/2015/TT-BTP Quy định chi tiết thi hành một số điều của Luật hộ tịch và Nghị định số 123/2015/NĐ-CP ngày 15 tháng 11 năm 2015 của Chính phủ quy định chi tiết một số điều và biện pháp thi hành Luật hộ tịch.

Admin PBGDPL

Luật Sư Việt Nam

Bình luận