Chia tài sản thuộc sở hữu chung để trả nợ
Tôi và hai người bạn góp tiền mua chung một chiếc xe ô tô để cho thuê người chạy grab. Chúng tôi có ghi sổ, ký tên về việc góp tiền, nhưng để cho một người đứng tên làm thủ tục đăng ký. Mới được...
Tôi và hai người bạn góp tiền mua chung một chiếc xe ô tô để cho thuê người chạy grab. Chúng tôi có ghi sổ, ký tên về việc góp tiền, nhưng để cho một người đứng tên làm thủ tục đăng ký. Mới được gần hai tháng, anh này thông báo cần chuyển trường cho con nên phải vay một số tiền của cửa hàng cầm đồ trong một tháng và đã thế chấp giấy tờ xe. Anh này yêu cầu chúng tôi hoàn thành việc mua lại phần vốn góp trong khoảng thời gian đó. Nếu không, anh ấy sẽ bán chiếc xe để tránh việc chủ cửa hàng cầm đồ thanh lý giá rẻ.
Xin hỏi:
- Thực tế chiếc xe thuộc sở hữu chung của ba người. Nếu không có ý kiến của chúng tôi, anh này có được thế chấp để vay tiền hay không?
- Thêm nữa, nếu anh ấy không trả được nợ, chủ cửa hàng cầm đồ có quyền thanh lý chiếc xe hay không?
Trả lời
Thông thường, người đứng tên trên giấy đăng ký được xác định là chủ sở hữu của chiếc xe ô tô. Điều đó đồng nghĩa với việc họ có quyền định đoạt với tài sản của mình, bao gồm thế chấp để đảm bảo nghĩa vụ trả nợ tiền vay.
Thế chấp tài sản, theo khoản 1 Điều 317 Bộ luật Dân sự năm 2015, “là việc một bên (sau đây gọi là bên thế chấp) dùng tài sản thuộc sở hữu của mình để bảo đảm thực hiện nghĩa vụ và không giao tài sản cho bên kia (sau đây gọi là bên nhận thế chấp)”.
Trong hợp đồng thế chấp có thể ghi nhận nội dung đến hạn trả nợ tiền vay, người vay không thực hiện hoặc thực hiện không đúng nghĩa vụ, người cho vay có quyền xử lý tài sản thế chấp theo một trong những phương thức được quy định tại khoản 1 Điều 303 của Bộ luật này, bao gồm:
“a) Bán đấu giá tài sản;
b) Bên nhận bảo đảm tự bán tài sản;
c) Bên nhận bảo đảm nhận chính tài sản để thay thế cho việc thực hiện nghĩa vụ của bên bảo đảm;
d) Phương thức khác”.
Trường hợp không có thỏa thuận về phương thức xử lý tài sản bảo đảm như trên, theo khoản 2 của Điều này, “tài sản được bán đấu giá, trừ trường hợp luật có quy định khác”.
Tuy nhiên, nếu giữa ba người có thỏa thuận về việc góp tiền mua xe và xác lập quyền sở hữu chung đối với chiếc xe, thậm chí có ủy quyền cho một người đứng tên đăng ký sở hữu, thì người này chỉ là một trong những chủ sở hữu của chiếc xe. Theo đó, việc chiếm hữu, sử dụng, định đoạt chiếc xe phải có sự thỏa thuận giữa các sở hữu chung.
Điều 207 Bộ luật này quy định về sở hữu chung và các loại sở hữu chung như sau:
“1. Sở hữu chung là sở hữu của nhiều chủ thể đối với tài sản.
2. Sở hữu chung bao gồm sở hữu chung theo phần và sở hữu chung hợp nhất”.
Quyền sở hữu chung được xác lập theo thoả thuận, theo quy định của pháp luật hoặc theo tập quán.
Việc định đoạt tài sản chung như thế chấp, hoặc bán chiếc xe ô tô phải được thực hiện theo quy định tại Điều 218 của Bộ luật này. Đó là:
“1. Mỗi chủ sở hữu chung theo phần có quyền định đoạt phần quyền sở hữu của mình.
2. Việc định đoạt tài sản chung hợp nhất được thực hiện theo thoả thuận của các chủ sở hữu chung hoặc theo quy định của pháp luật.
3. Trường hợp một chủ sở hữu chung theo phần bán phần quyền sở hữu của mình thì chủ sở hữu chung khác được quyền ưu tiên mua.
Trong thời hạn 03 tháng đối với tài sản chung là bất động sản, 01 tháng đối với tài sản chung là động sản, kể từ ngày các chủ sở hữu chung khác nhận được thông báo về việc bán và các điều kiện bán mà không có chủ sở hữu chung nào mua thì chủ sở hữu đó được quyền bán cho người khác. Việc thông báo phải được thể hiện bằng văn bản và các điều kiện bán cho chủ sở hữu chung khác phải giống như điều kiện bán cho người không phải là chủ sở hữu chung.
Trường hợp bán phần quyền sở hữu mà có sự vi phạm về quyền ưu tiên mua thì trong thời hạn 03 tháng, kể từ ngày phát hiện có sự vi phạm về quyền ưu tiên mua, chủ sở hữu chung theo phần trong số các chủ sở hữu chung có quyền yêu cầu Tòa án chuyển sang cho mình quyền và nghĩa vụ của người mua; bên có lỗi gây thiệt hại phải bồi thường thiệt hại.
4. Trường hợp một trong các chủ sở hữu chung đối với bất động sản từ bỏ phần quyền sở hữu của mình hoặc khi người này chết mà không có người thừa kế thì phần quyền sở hữu đó thuộc về Nhà nước, trừ trường hợp sở hữu chung của cộng đồng thì thuộc sở hữu chung của các chủ sở hữu chung còn lại.
5. Trường hợp một trong các chủ sở hữu chung đối với động sản từ bỏ phần quyền sở hữu của mình hoặc khi người này chết mà không có người thừa kế thì phần quyền sở hữu đó thuộc sở hữu chung của các chủ sở hữu còn lại.
6. Trường hợp tất cả các chủ sở hữu từ bỏ quyền sở hữu của mình đối với tài sản chung thì việc xác lập quyền sở hữu được áp dụng theo quy định tại Điều 228 của Bộ luật này”.
Có nghĩa là, với tư cách chủ sở hữu chung, mỗi người trong số các bạn có quyền định đoạt phần quyền sở hữu của mình. Việc định đoạt tài sản chung hợp nhất được thực hiện theo thoả thuận của các chủ sở hữu chung hoặc theo quy định của pháp luật. Trường hợp một người bán phần quyền sở hữu của mình thì những người còn lại được quyền ưu tiên mua.
Nói cách khác, vì chiếc xe ô tô là tài sản chung, không có sự đồng ý của bạn, người kia không có quyền thế chấp chiếc xe cho cửa hàng cầm đồ.
Khi đó, nếu các bạn yêu cầu và chứng minh được đó là tài sản chung, tòa án có thể quyết định hợp đồng thế chấp vô hiệu, cho dù chủ cửa hàng cầm đồ hoàn toàn ngay tình khi cho vay và nhận thế chấp.
Với tư cách bên cho vay, chủ cửa hàng cầm đồ cũng có thể yêu cầu chia tài sản chung để đòi nợ nếu người vay không thực hiện nghĩa vụ. Nếu không thể chia hoặc các bạn phản đối việc chia, chủ cửa hàng cầm đồ có quyền yêu cầu người vay tiền của họ bán phần quyền sở hữu tài sản chung để trả nợ. Bởi vì, khoản 2 Điều 219 Bộ luật này quy định: “Trường hợp có người yêu cầu một người trong số các chủ sở hữu chung thực hiện nghĩa vụ thanh toán và chủ sở hữu chung đó không có tài sản riêng hoặc tài sản riêng không đủ để thanh toán thì người yêu cầu có quyền yêu cầu chia tài sản chung và tham gia vào việc chia tài sản chung, trừ trường hợp pháp luật có quy định khác.
Nếu không thể chia phần quyền sở hữu bằng hiện vật hoặc việc chia này bị các chủ sở hữu chung còn lại phản đối thì người có quyền có quyền yêu cầu người có nghĩa vụ bán phần quyền sở hữu của mình để thực hiện nghĩa vụ thanh toán”.
Admin Admin Admin