📞 Hotline: 0989919161✉️ Email: [email protected]
Giải đáp pháp luật

Căn cứ bồi thường thu nhập thực tế bị mất hoặc bị giảm sút của người bị thiệt hại

Tôi được biết, người có hành vi làm tổn hại sức khỏe cho người khác thì phải bồi thường. Nếu người thiệt hại cũng có lỗi một phần thì người gây thiệt hại có phải bồi thường cho người bị thiệt hại...

Trả lời

Theo quy định của pháp luật dân sự, người nào có hành vi xâm phạm tính mạng, sức khỏe, danh dự, nhân phẩm, uy tín, tài sản, quyền, lợi ích hợp pháp khác của người khác mà gây thiệt hại thì phải bồi thường, trừ trường hợp Bộ luật này, luật khác có liên quan quy định khác.

Như vậy, xâm phạm sức khỏe của người khác là một trong những trường hợp phải chịu trách nhiệm bồi thường thiệt hại ngoài hợp đồng.

Thiệt hại do sức khỏe bị xâm phạm được quy định tại khoản 1 Điều 590 của Bộ luật Dân sự năm 2015 bao gồm:

“a) Chi phí hợp lý cho việc cứu chữa, bồi dưỡng, phục hồi sức khỏe và chức năng bị mất, bị giảm sút của người bị thiệt hại;

b) Thu nhập thực tế bị mất hoặc bị giảm sút của người bị thiệt hại; nếu thu nhập thực tế của người bị thiệt hại không ổn định và không thể xác định được thì áp dụng mức thu nhập trung bình của lao động cùng loại;

c) Chi phí hợp lý và phần thu nhập thực tế bị mất của người chăm sóc người bị thiệt hại trong thời gian điều trị; nếu người bị thiệt hại mất khả năng lao động và cần phải có người thường xuyên chăm sóc thì thiệt hại bao gồm cả chi phí hợp lý cho việc chăm sóc người bị thiệt hại;

d) Thiệt hại khác do luật quy định”.

Bên cạnh đó, theo khoản 2 của Điều này, “người chịu trách nhiệm bồi thường trong trường hợp sức khỏe của người khác bị xâm phạm phải bồi thường thiệt hại theo quy định tại khoản 1 Điều này và một khoản tiền khác để bù đắp tổn thất về tinh thần mà người đó gánh chịu. Mức bồi thường bù đắp tổn thất về tinh thần do các bên thỏa thuận; nếu không thỏa thuận được thì mức tối đa cho một người có sức khỏe bị xâm phạm không quá năm mươi lần mức lương cơ sở do Nhà nước quy định”.

Ngoài chi phí hợp lý cho việc cứu chữa, bồi dưỡng, phục hồi sức khỏe và chức năng bị mất, bị giảm sút của người bị thiệt hại, người có hành vi xâm phạm sức khỏe của người khác còn phải bồi thường thiệt hại là thu nhập thực tế bị mất hoặc bị giảm sút của người bị thiệt hại.

Hướng dẫn cụ thể nội dung này, khoản 2 Điều 7 Nghị quyết số 02/2022/NQ-HĐTP ngày 06/9/2022 (có hiệu lực từ ngày 01/01/2023) của Hội đồng thẩm phán Tòa án nhân dân tối cao quy định thu nhập thực tế bị mất hoặc bị giảm sút của người bị thiệt hại được xác định như sau:

“a) Trường hợp người bị thiệt hại có thu nhập ổn định từ tiền lương, tiền công thì được xác định theo mức tiền lương, tiền công của người bị thiệt hại trong khoảng thời gian tiền lương, tiền công bị mất hoặc bị giảm sút;

b) Trường hợp người bị thiệt hại có thu nhập không ổn định từ tiền lương, tiền công được xác định căn cứ vào mức tiền lương, tiền công trung bình của 03 tháng liền kề trước thời điểm thiệt hại xảy ra. Trường hợp không xác định được 03 tháng lương liền kề trước thời điểm thiệt hại xảy ra thì căn cứ vào thu nhập trung bình của lao động cùng loại tại địa phương trong khoảng thời gian thu nhập thực tế bị mất hoặc bị giảm sút. Nếu không xác định được thu nhập trung bình của lao động cùng loại tại địa phương thì thu nhập thực tế bị mất hoặc bị giảm sút được bồi thường là 01 ngày lương tối thiểu vùng tại nơi người bị thiệt hại cư trú cho 01 ngày bị thiệt hại.

Ngày lương tối thiểu vùng được xác định là 01 tháng lương tối thiểu vùng do Nhà nước quy định chia cho 26 ngày”.

Thu nhập thực tế bị mất hoặc bị giảm sút của người bị thiệt hại được xác định trên cơ sở người bị thiệt hại có thu nhập ổn định hoặc không ổn định từ tiền lương, tiền công theo quy định nêu trên.

Cũng cần lưu ý, người gây thiệt hại không phải chịu trách nhiệm bồi thường thiệt hại trong trường hợp thiệt hại phát sinh là do sự kiện bất khả kháng hoặc hoàn toàn do lỗi của bên bị thiệt hại, trừ trường hợp có thỏa thuận khác hoặc luật có quy định khác.

Một trong các nguyên tắc bồi thường thiệt hại được quy định tại khoản 4 Điều 585 Bộ luật Dân sự năm 2015 là: “Khi bên bị thiệt hại có lỗi trong việc gây thiệt hại thì không được bồi thường phần thiệt hại do lỗi của mình gây ra”.

Bên bị thiệt hại có một phần lỗi đối với thiệt hại xảy ra thì không được bồi thường thiệt hại tương ứng với phần lỗi đó.

Ví dụ: A và B cùng lái ô tô tham gia giao thông, xảy ra tai nạn do đâm va vào nhau dẫn đến thu nhập thực tế của A bị mất hoặc bị giảm sút 100.000.000 đồng. Cơ quan có thẩm quyền xác định A và B cùng có lỗi với mức độ lỗi của mỗi người là 50%. Trường hợp này, B phải bồi thường 50.000.000 đồng cho A (50% thiệt hại).

Thu Hường

Vũ Thị Thanh Tú

Luật Sư Việt Nam

Bình luận