📞 Hotline: 0989919161✉️ Email: [email protected]
Giải đáp pháp luật

Các trường hợp doanh nghiệp bảo hiểm không có trách nhiệm bồi thường

Cháu tôi chưa đủ 18 tuổi nhưng lấy xe máy 110cm3 của chú để đi, gây tai nạn cho người khác. Nếu xe của chú có mua bảo hiểm bắt buộc trách nhiệm dân sự thì doanh nghiệp bảo hiểm sẽ bồi thường cho...

Trả lời

Theo Điều 5 Nghị định số 67/2023/NĐ-CP ngày 06/9/2023 của Chính phủ, “đối tượng bảo hiểm bắt buộc trách nhiệm dân sự của chủ xe cơ giới là trách nhiệm dân sự của chủ xe cơ giới đối với người thứ ba, hành khách theo quy định của pháp luật”.

Chủ xe cơ giới tham gia giao thông, hoạt động trên lãnh thổ nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam có trách nhiệm mua bảo hiểm bắt buộc trách nhiệm dân sự của chủ xe cơ giới.

Giới hạn trách nhiệm bảo hiểm được quy định tại Điều 6 của Nghị định này như sau:

“1. Giới hạn trách nhiệm bảo hiểm đối với thiệt hại về sức khỏe, tính mạng do xe cơ giới gây ra là 150 triệu đồng cho một người trong một vụ tai nạn.

2. Giới hạn trách nhiệm bảo hiểm đối với thiệt hại về tài sản:

a) Do xe mô tô hai bánh; xe mô tô ba bánh; xe gắn máy (kể cả xe máy điện) và các loại xe có kết cấu tương tự theo quy định của Luật Giao thông đường bộ gây ra là 50 triệu đồng trong một vụ tai nạn.

b) Do xe ô tô; máy kéo; rơ moóc hoặc sơ mi rơ moóc được kéo bởi xe ô tô, máy kéo theo quy định của Luật Giao thông đường bộ gây ra là 100 triệu đồng trong một vụ tai nạn”.

Xe cơ giới (phương tiện giao thông cơ giới đường bộ) gồm xe ô tô; máy kéo; rơ moóc hoặc sơ mi rơ moóc được kéo bởi xe ô tô, máy kéo; xe mô tô hai bánh; xe mô tô ba bánh; xe gắn máy (kể cả xe máy điện) và các loại xe tương tự.

Đối với thiệt hại về sức khỏe, tính mạng do xe cơ giới gây ra, giới hạn trách nhiệm bảo hiểm là 150 triệu đồng cho một người trong một vụ tai nạn.

Về phạm vi bảo hiểm, theo khoản 1 Điều 7 của Nghị định này, doanh nghiệp bảo hiểm có trách nhiệm bồi thường cho những thiệt hại sau:

“a) Thiệt hại ngoài hợp đồng về sức khỏe, tính mạng và tài sản đối với người thứ ba do xe cơ giới tham gia giao thông, hoạt động gây ra.

b) Thiệt hại về sức khỏe, tính mạng của hành khách trên chiếc xe đó do xe cơ giới tham gia giao thông, hoạt động gây ra”.

Cũng cần lưu ý, theo khoản 2 Điều này, doanh nghiệp bảo hiểm không có trách nhiệm bồi thường bảo hiểm trong các trường hợp sau:

“a) Hành động cố ý gây thiệt hại của chủ xe cơ giới, người lái xe hoặc người bị thiệt hại.

b) Người lái xe gây tai nạn cố ý bỏ chạy không thực hiện trách nhiệm dân sự của chủ xe cơ giới. Trường hợp người lái xe gây tai nạn cố ý bỏ chạy nhưng đã thực hiện trách nhiệm dân sự của chủ xe cơ giới thì không thuộc trường hợp loại trừ trách nhiệm bảo hiểm.

c) Người lái xe không đủ điều kiện về độ tuổi theo quy định của Luật Giao thông đường bộ; người lái xe không có Giấy phép lái xe hoặc sử dụng Giấy phép lái xe không hợp lệ theo quy định của pháp luật về đào tạo, sát hạch, cấp giấy phép lái xe cơ giới đường bộ, Giấy phép lái xe bị tẩy xóa hoặc sử dụng Giấy phép lái xe hết hạn sử dụng tại thời điểm xảy ra tai nạn hoặc sử dụng Giấy phép lái xe không phù hợp đối với xe cơ giới bắt buộc phải có Giấy phép lái xe. Trường hợp người lái xe bị tước quyền sử dụng Giấy phép lái xe có thời hạn hoặc bị thu hồi Giấy phép lái xe thì được coi là không có Giấy phép lái xe.

d) Thiệt hại gây ra hậu quả gián tiếp bao gồm: giảm giá trị thương mại, thiệt hại gắn liền với việc sử dụng và khai thác tài sản bị thiệt hại.

đ) Thiệt hại đối với tài sản do lái xe điều khiển xe cơ giới mà trong máu hoặc hơi thở có nồng độ cồn vượt quá mức trị số bình thường theo hướng dẫn của Bộ Y tế; sử dụng ma túy và chất kích thích bị cấm theo quy định của pháp luật.

e) Thiệt hại đối với tài sản bị mất cắp hoặc bị cướp trong tai nạn.

g) Thiệt hại đối với tài sản đặc biệt bao gồm: vàng, bạc, đá quý, các loại giấy tờ có giá trị như tiền, đồ cổ, tranh ảnh quý hiếm, thi hài, hài cốt.

h) Thiệt hại do chiến tranh, khủng bố, động đất”.

Như vậy, một trong các trường hợp doanh nghiệp bảo hiểm không có trách nhiệm bồi thường là người lái xe không đủ điều kiện về độ tuổi theo quy định của Luật Giao thông đường bộ.

Theo điểm b khoản 1 Điều 60 Luật Giao thông đường bộ năm 2008, “Người đủ 18 tuổi trở lên được lái xe mô tô hai bánh, xe mô tô ba bánh có dung tích xi-lanh từ 50 cm3 trở lên và các loại xe có kết cấu tương tự; xe ô tô tải, máy kéo có trọng tải dưới 3.500 kg; xe ô tô chở người đến 9 chỗ ngồi”.

Có nghĩa là, cháu của bạn chưa đủ 18 tuổi, điều khiển xe mô tô hai bánh có dung tích xi-lanh từ 110 cm3 là không đúng quy định của pháp luật. Ngoài việc bị xử phạt vi phạm hành chính, việc gây tai nạn dẫn đến thiệt hại về sức khỏe, tính mạng và tài sản đối với người thứ ba sẽ không thuộc trách nhiệm bồi thường của doanh nghiệp bảo hiểm.

Thu Hường

Vũ Thị Thanh Tú

Xem thêm

Luật Sư Việt Nam

Bình luận