Bồi thường thiệt hại do người làm công, học nghề gây ra
Anh A là khách hàng mua xe ô tô có nộp số tiền 400.000.000 đồng cho tư vấn bán hàng là anh B. Quá trình giao dịch, anh B thu tiền và viết phiếu thu, sau đó 02 bên ký hợp đồng. Tuy nhiên sau đó, B...
để đánh bạc. B bị Tòa án xét xử về tội Lạm dụng tín nhiệm chiếm đoạt tài sản và buộc bồi thường số tiền 400.000.000 đồng cho A. Tuy nhiên, A đề nghị Công ty C phải có trách nhiệm bồi thường số tiền trên cho A chứ không phải là B, B phải có trách nhiệm bồi thường cho Công ty C. Vậy quan điểm của A như trên có đúng không?
Trả lời
- Khoản 5 Điều 3 Luật Việc làm 2013 giải thích về việc làm công như sau: Việc làm công là việc làm tạm thời có trả công được tạo ra thông qua việc thực hiện các dự án hoặc hoạt động sử dụng vốn nhà nước gắn với các chương trình phát triển kinh tế - xã hội trên địa bàn xã, phường, thị trấn (sau đây gọi chung là cấp xã).
- Điều 584 Bộ Luật Dân sự 2015 quy định căn cứ phát sinh trách nhiệm bồi thường thiệt hại:
“1. Người nào có hành vi xâm phạm tính mạng, sức khỏe, danh dự, nhân phẩm, uy tín, tài sản, quyền, lợi ích hợp pháp khác của người khác mà gây thiệt hại thì phải bồi thường, trừ trường hợp Bộ luật này, luật khác có liên quan quy định khác.
2. Người gây thiệt hại không phải chịu trách nhiệm bồi thường thiệt hại trong trường hợp thiệt hại phát sinh là do sự kiện bất khả kháng hoặc hoàn toàn do lỗi của bên bị thiệt hại, trừ trường hợp có thỏa thuận khác hoặc luật có quy định khác.
3. Trường hợp tài sản gây thiệt hại thì chủ sở hữu, người chiếm hữu tài sản phải chịu trách nhiệm bồi thường thiệt hại, trừ trường hợp thiệt hại phát sinh theo quy định tại khoản 2 Điều này”.
- Điều 586 Bộ Luật Dân sự 2015 quy định năng lực chịu trách nhiệm bồi thường thiệt hại của cá nhân
“1. Người từ đủ mười tám tuổi trở lên gây thiệt hại thì phải tự bồi thường.
2. Người chưa đủ mười lăm tuổi gây thiệt hại mà còn cha, mẹ thì cha, mẹ phải bồi thường toàn bộ thiệt hại; nếu tài sản của cha, mẹ không đủ để bồi thường mà con chưa thành niên gây thiệt hại có tài sản riêng thì lấy tài sản đó để bồi thường phần còn thiếu, trừ trường hợp quy định tại Điều 599 của Bộ luật này.
Người từ đủ mười lăm tuổi đến chưa đủ mười tám tuổi gây thiệt hại thì phải bồi thường bằng tài sản của mình; nếu không đủ tài sản để bồi thường thì cha, mẹ phải bồi thường phần còn thiếu bằng tài sản của mình.
3. Người chưa thành niên, người mất năng lực hành vi dân sự, người có khó khăn trong nhận thức, làm chủ hành vi gây thiệt hại mà có người giám hộ thì người giám hộ đó được dùng tài sản của người được giám hộ để bồi thường; nếu người được giám hộ không có tài sản hoặc không đủ tài sản để bồi thường thì người giám hộ phải bồi thường bằng tài sản của mình; nếu người giám hộ chứng minh được mình không có lỗi trong việc giám hộ thì không phải lấy tài sản của mình để bồi thường”.
- Điều 600 Bộ luật Dân sự năm 2015 quy định về bồi thường thiệt hại do người làm công, người học nghề gây ra như sau: "Cá nhân, pháp nhân phải bồi thường thiệt hại do người làm công, người học nghề gây ra trong khi thực hiện công việc được giao và có quyền yêu cầu người làm công, người học nghề có lỗi trong việc gây thiệt hại phải hoàn trả một khoản tiền theo quy định của pháp luật".
Như vậy, để xác định ai có trách nhiệm bồi thường số tiền 400.000.000 đồng cho A thì cần phải làm rõ việc B giao dịch với A có đúng với nhiệm vụ, quyền hạn được Công ty C giao hay không (có được giao thu – nhận tiền, viết phiếu thu…):
+. Trường hợp nếu B có đầy đủ tư cách nhân danh Công ty C để giao dịch với A thì căn cứ Điều 600 Bộ luật Dân sự năm 2015, Công ty C có trách nhiệm bồi thường số tiền 400.000.000 đồng cho A chứ không phải là B và B phải có trách nhiệm bồi thường cho Công ty C. Do đó, quan điểm của A đưa ra là đúng.
+. Trường hợp B không được Công ty C giao thu tiền nhưng vẫn viết phiếu thu và nhận tiền từ A và gây ra thiệt hại cho A và Công ty C thì B phải có trách nhiệm bồi thường số tiền 400.000.000đ cho A mà không phải Công ty C.
Như Quỳnh
Đỗ Như Quỳnh