📞 Hotline: 0989919161✉️ Email: [email protected]
Giải đáp pháp luật

Bố mẹ không đăng ký kết hôn thì con sinh ra có được hưởng thừa kế không?

Em gái tôi và anh Z chung sống như vợ chồng và hiện em đang mang thai con chung. Không may, do tai nạn giao thông nên anh Z mất đột ngột. Đến nay, khi chia thừa kế tài sản của anh Z, cha mẹ và gia...

em gái tôi được hưởng thừa kế vì lý do bé chỉ mới thành thai, chưa có tư cách công dân nên không được hưởng di sản. Đề nghị cho tôi biết, trong trường hợp này con của em gái tôi có được hưởng thừa kế không? Do anh Z mất không để lại di chúc thì tài sản chia như thế nào?

Trả lời:

- Điều 612 Bộ luật Dân sự năm 2015 quy định "Di sản bao gồm tài sản riêng của người chết, phần tài sản của người chết trong tài sản chung với người khác."

- Điều 613 Bộ luật dân sự 2015 quy định về người thừa kế như sau: Người thừa kế là cá nhân phải là người còn sống vào thời điểm mở thừa kế hoặc sinh ra và còn sống sau thời điểm mở thừa kế nhưng đã thành thai trước khi người để lại di sản chết. Trường hợp người thừa kế theo di chúc không là cá nhân thì phải tồn tại vào thời điểm mở thừa kế”.

- Điều 660 Bộ luật dân sự 2015 quy định về việc phân chia di sản theo pháp luật như sau:

“1. Khi phân chia di sản, nếu có người thừa kế cùng hàng đã thành thai nhưng chưa sinh ra thì phải dành lại một phần di sản bằng phần mà người thừa kế khác được hưởng để nếu người thừa kế đó còn sống khi sinh ra được hưởng; nếu chết trước khi sinh ra thì những người thừa kế khác được hưởng.

2. Những người thừa kế có quyền yêu cầu phân chia di sản bằng hiện vật; nếu không thể chia đều bằng hiện vật thì những người thừa kế có thể thỏa thuận về việc định giá hiện vật và thỏa thuận về người nhận hiện vật; nếu không thỏa thuận được thì hiện vật được bán để chia”.

- Khoản 2 Điều 101 Luật Hôn nhân và Gia đình năm 2014 quy định thẩm quyền giải quyết việc xác định cha, mẹ, con như sau: Tòa án có thẩm quyền giải quyết việc xác định cha, mẹ, con trong trường hợp có tranh chấp hoặc người được yêu cầu xác định là cha, mẹ, con đã chết và trường hợp quy định tại Điều 92 của Luật này.

Quyết định của Tòa án về xác định cha, mẹ, con phải được gửi cho cơ quan đăng ký hộ tịch để ghi chú theo quy định của pháp luật về hộ tịch; các bên trong quan hệ xác định cha, mẹ, con; cá nhân, cơ quan, tổ chức có liên quan theo quy định của pháp luật về tố tụng dân sự”.

- Khoản 2 Điều 102 Luật Hôn nhân và Gia đình năm 2014 quy định người có quyền yêu cầu xác định cha, mẹ, con như sau:Cha, mẹ, con, theo quy định của pháp luật về tố tụng dân sự, có quyền yêu cầu Tòa án xác định con, cha, mẹ cho mình trong trường hợp được quy định tại khoản 2 Điều 101 của Luật này”.

- Khoản 1 Điều 650 Bộ luật dân sự 2015 quy định về việc áp dụng thừa kế theo pháp luật như sau:

“a) Không có di chúc;

b) Di chúc không hợp pháp;

c) Những người thừa kế theo di chúc chết trước hoặc chết cùng thời điểm với người lập di chúc; cơ quan, tổ chức được hưởng thừa kế theo di chúc không còn tồn tại vào thời điểm mở thừa kế;

d) Những người được chỉ định làm người thừa kế theo di chúc mà không có quyền hưởng di sản hoặc từ chối nhận di sản”.

- Điều 651 Bộ luật dân sự 2015 quy định về người thừa kế theo pháp luật như sau:

“1. Những người thừa kế theo pháp luật được quy định theo thứ tự sau đây:

a) Hàng thừa kế thứ nhất gồm: vợ, chồng, cha đẻ, mẹ đẻ, cha nuôi, mẹ nuôi, con đẻ, con nuôi của người chết;

b) Hàng thừa kế thứ hai gồm: ông nội, bà nội, ông ngoại, bà ngoại, anh ruột, chị ruột, em ruột của người chết; cháu ruột của người chết mà người chết là ông nội, bà nội, ông ngoại, bà ngoại;

c) Hàng thừa kế thứ ba gồm: cụ nội, cụ ngoại của người chết; bác ruột, chú ruột, cậu ruột, cô ruột, dì ruột của người chết; cháu ruột của người chết mà người chết là bác ruột, chú ruột, cậu ruột, cô ruột, dì ruột; chắt ruột của người chết mà người chết là cụ nội, cụ ngoại.

2. Những người thừa kế cùng hàng được hưởng phần di sản bằng nhau.

3. Những người ở hàng thừa kế sau chỉ được hưởng thừa kế, nếu không còn ai ở hàng thừa kế trước do đã chết, không có quyền hưởng di sản, bị truất quyền hưởng di sản hoặc từ chối nhận di sản.

Theo quy định của pháp luật thì con đã thành thai trước khi người để lại di sản chết được pháp luật công nhận là người thừa kế, và được dành lại một phần di sản bằng với những người thừa kế khác cùng hàng nếu người thừa kế đó còn sống khi sinh ra. Tuy nhiên, do em gái bạn chỉ chung sống như vợ chồng nên để con được nhận thừa kế như quy định nêu trên thì em gái bạn phải thực hiện xác định quan hệ cha con cho con theo quy định của Luật hôn nhân và gia đình. Do anh Z không để lại di chúc khi chết cho nên việc chia tài sản thừa kế sẽ thực hiện theo pháp luật (theo thứ tự hàng thừa kế và quy định khác của pháp luật), trong đó con của em gái bạn thuộc hàng thừa kế thứ nhất và được hưởng thừa kế bằng những người thừa kế cùng hàng.

Đỗ Như Quỳnh

Luật Sư Việt Nam

Bình luận