Trách nhiệm bồi thường của doanh nghiệp đối với người lao động bị tai nạn lao động tỷ lệ thương tật suy giảm 15%
Anh trai tôi là công nhân vận hành máy nâng hàng tại Công ty Y, trong quá trình làm việc do máy nâng hành quá cũ nên xảy ra sự cố làm anh trai tôi bị ngã. Sau đó anh tôi đã được đồng nghiệp đưa vào...
Trả lời:
Theo quy định tại Khoản 1 Điều 45 Luật An toàn, vệ sinh lao động năm 2015, người lao động bị tai nạn trong các trường hợp sau sẽ được coi là bị tai nạn lao động:
a) Tại nơi làm việc và trong giờ làm việc, kể cả khi đang thực hiện các nhu cầu sinh hoạt cần thiết tại nơi làm việc hoặc trong giờ làm việc mà Bộ luật Lao động và nội quy của cơ sở sản xuất, kinh doanh cho phép, bao gồm nghỉ giải lao, ăn giữa ca, ăn bồi dưỡng hiện vật, làm vệ sinh kinh nguyệt, tắm rửa, cho con bú, đi vệ sinh.
b) Ngoài nơi làm việc hoặc ngoài giờ làm việc khi thực hiện công việc theo yêu cầu của người sử dụng lao động hoặc người được người sử dụng lao động ủy quyền bằng văn bản trực tiếp quản lý lao động.
c) Trên tuyến đường đi từ nơi ở đến nơi làm việc hoặc từ nơi làm việc về nơi ở trong khoảng thời gian và tuyến đường hợp lý.
Như vậy, căn cứ quy định nêu trên, anh trai anh bị tai nạn tại nơi làm việc được coi là bị tai nạn lao động.
Trách nhiệm của người sử dụng lao động đối với người lao động bị tai nạn lao động, bệnh nghề nghiệp được quy định tại Khoản 4,5 Điều 38 Luật An toàn, vệ sinh lao động 2015, như sau:
“4. Bồi thường cho người lao động bị tai nạn lao động mà không hoàn toàn do lỗi của chính người này gây ra và cho người lao động bị bệnh nghề nghiệp với mức như sau:
a) Ít nhất bằng 1,5 tháng tiền lương nếu bị suy giảm từ 5% đến 10% khả năng lao động; sau đó cứ tăng 1% được cộng thêm 0,4 tháng tiền lương nếu bị suy giảm khả năng lao động từ 11% đến 80%;
b) Ít nhất 30 tháng tiền lương cho người lao động bị suy giảm khả năng lao động từ 81% trở lên hoặc cho thân nhân người lao động bị chết do tai nạn lao động, bệnh nghề nghiệp;
5. Trợ cấp cho người lao động bị tai nạn lao động mà do lỗi của chính họ gây ra một khoản tiền ít nhất bằng 40% mức quy định tại khoản 4 Điều này với mức suy giảm khả năng lao động tương ứng”
Trường hợp của anh trai anh là công nhân vận hành máy bị tai nạn lao động do máy đã quá cũ, anh trai anh sẽ được hưởng mức bồi thường theo quy định tại Khoản 4 của Điều 38 Luật An toàn vệ sinh lao động. Như vậy, anh trai anh bị suy giảm khả năng lao động là 15% thì công ty Y sẽ phải bồi thường ít nhất bằng 3,5 tháng tiền lương theo quy định tại điểm a Khoản 4 Điều 38 Luật An toàn vệ sinh lao động .
Để được hưởng chế độ anh cần phải chuẩn bị hồ sơ theo quy định tại Điều 57 Luật An toàn, vệ sinh lao động 2015, như sau:
“1. Sổ bảo hiểm xã hội.
2. Giấy ra viện hoặc trích sao hồ sơ bệnh án sau khi đã điều trị tai nạn lao động đối với trường hợp nội trú.
3. Biên bản giám định mức suy giảm khả năng lao động của Hội đồng giám định y khoa.
4. Văn bản đề nghị giải quyết chế độ tai nạn lao động theo mẫu do Bảo hiểm xã hội Việt Nam ban hành sau khi thống nhất ý kiến với Bộ Lao động - Thương binh và Xã hội.”.
Sau khi chuẩn bị đầy đủ anh gửi hồ sơ đến Công ty Y (nơi anh trai anh làm việc), vì theo quy định tại Điều 59 Luật An toàn vệ sinh lao động 2015:
“1. Người sử dụng lao động nộp hồ sơ cho cơ quan bảo hiểm xã hội trong thời hạn 30 ngày, kể từ ngày nhận được đầy đủ hồ sơ hưởng chế độ bảo hiểm tai nạn lao động, bệnh nghề nghiệp theo quy định tại Điều 57 và Điều 58 của Luật này.
2. Trong thời hạn 10 ngày, kể từ ngày nhận đủ hồ sơ, cơ quan bảo hiểm xã hội có trách nhiệm giải quyết hưởng chế độ bảo hiểm tai nạn lao động, bệnh nghề nghiệp; trường hợp không giải quyết thì phải trả lời bằng văn bản và nêu rõ lý do”./.
Đỗ Như Quỳnh