Bảo hiểm trách nhiệm nghề nghiệp của công chứng viên
Con tôi tốt nghiệp trường Luật và đã đi làm cho một doanh nghiệp nước ngoài. Vừa rồi, cháu nói với bố mẹ về việc đã tham gia thi tuyển và chuyển sang làm cho một văn phòng công chứng tư nhân.
Con tôi tốt nghiệp trường Luật và đã đi làm cho một doanh nghiệp nước ngoài. Vừa rồi, cháu nói với bố mẹ về việc đã tham gia thi tuyển và chuyển sang làm cho một văn phòng công chứng tư nhân.
Tôi phân vân vì công việc mới của cháu có thể rất phức tạp, đòi hỏi tính chính xác trong việc xác nhận nhiều quan hệ giao dịch dân sự, thương mại của đời sống xã hội. Theo đó, trách nhiệm cũng tương ứng.
Con tôi có nói về việc tham gia bảo hiểm trách nhiệm nghề nghiệp để hạn chế những rủi ro. Mong các anh chị giải đáp:
- Pháp luật quy định như thế nào về bảo hiểm trách nhiệm nghề nghiệp của công chứng viên?
- Khi có sai sót của công chứng viên dẫn đến thiệt hại xảy ra, có phải trong mọi trường hợp đơn vị bảo hiểm sẽ tiến hành chi trả hay không?
Trả lời
Bảo hiểm trách nhiệm nghề nghiệp được thiết kế để bảo vệ doanh nghiệp và các cá nhân đối với các trách nhiệm dân sự phát sinh từ hành động sơ suất có thể dẫn đến bị kiện tụng hay bồi thường với chi phí cao. Bảo hiểm trách nhiệm nghề nghiệp mang lại quyền lợi bảo hiểm cho các doanh nghiệp cung cấp dịch vụ tư vấn chuyên nghiệp cho cá nhân và tổ chức, nhằm bảo vệ các chi phí pháp lý và bồi thường thiệt hại phát sinh từ hậu quả của việc khiếu nại liên quan đến các sơ suất của người được bảo hiểm. Trong khi các loại hình bảo hiểm trách nhiệm tổng quát tập trung vào các hình thức thiệt hại trực tiếp như bị thương tật, thiệt hại vật chất, bảo hiểm trách nhiệm nghề nghiệp đưa ra hình thức bảo hiểm chi tiết và toàn diện hơn, bảo vệ cho trách nhiệm của doanh nghiệp hoặc cá nhân liên quan đến thiệt hại về tài chính do lỗi hoặc sai sót (cho dù được chứng minh hay không).
Bảo hiểm trách nhiệm nghề nghiệp của công chứng viên được quy định tại Điều 37 Luật Công chứng năm 2014 như sau:
“1. Bảo hiểm trách nhiệm nghề nghiệp của công chứng viên là loại hình bảo hiểm bắt buộc. Việc mua bảo hiểm trách nhiệm nghề nghiệp cho công chứng viên phải được duy trì trong suốt thời gian hoạt động của tổ chức hành nghề công chứng.
2. Tổ chức hành nghề công chứng có nghĩa vụ mua bảo hiểm trách nhiệm nghề nghiệp cho công chứng viên hành nghề tại tổ chức mình.
Chậm nhất là 10 ngày làm việc kể từ ngày mua bảo hiểm hoặc kể từ ngày thay đổi, gia hạn hợp đồng bảo hiểm, tổ chức hành nghề công chứng có trách nhiệm thông báo và gửi bản sao hợp đồng bảo hiểm, hợp đồng thay đổi, gia hạn hợp đồng bảo hiểm trách nhiệm nghề nghiệp của công chứng viên cho Sở Tư pháp.
3. Chính phủ quy định chi tiết điều kiện bảo hiểm, mức phí bảo hiểm, số tiền bảo hiểm tối thiểu đối với bảo hiểm trách nhiệm nghề nghiệp của công chứng viên”.
Về nguyên tắc, Tổ chức hành nghề công chứng trực tiếp mua hoặc có thể ủy quyền cho tổ chức xã hội - nghề nghiệp của công chứng viên mua bảo hiểm trách nhiệm nghề nghiệp cho công chứng viên của tổ chức mình.
Theo khoản 2 Điều 19 Nghị định số 29/2015/NĐ-CP ngày 15/3/2015 của Chính phủ, “thời điểm mua bảo hiểm trách nhiệm nghề nghiệp của công chứng viên được thực hiện chậm nhất là 60 ngày, kể từ ngày công chứng viên của tổ chức hành nghề công chứng được đăng ký hành nghề”.
Đồng thời, theo khoản 1 Điều 22 của Nghị định này, “phí bảo hiểm là khoản tiền mà tổ chức hành nghề công chứng phải đóng cho doanh nghiệp bảo hiểm khi mua bảo hiểm trách nhiệm nghề nghiệp cho công chứng viên thuộc tổ chức mình”.
Cho nên, Bảo hiểm trách nhiệm nghề nghiệp của công chứng viên là loại hình bảo hiểm bắt buộc, do tổ chức hành nghề công chứng phải đóng cho doanh nghiệp bảo hiểm.
Phạm vi bảo hiểm được quy định tại Điều 20 của Nghị định này như sau:
“1. Phạm vi bảo hiểm bao gồm thiệt hại về vật chất của người tham gia ký kết hợp đồng, giao dịch hoặc của cá nhân, tổ chức khác có liên quan trực tiếp đến hợp đồng, giao dịch đã được công chứng mà những thiệt hại gây ra do lỗi của công chứng viên trong thời hạn bảo hiểm.
2. Tổ chức hành nghề công chứng hoặc tổ chức xã hội - nghề nghiệp của công chứng viên trong trường hợp được tổ chức hành nghề công chứng ủy quyền có thể thỏa thuận với doanh nghiệp bảo hiểm về phạm vi bảo hiểm rộng hơn phạm vi bảo hiểm quy định tại Khoản 1 Điều này”.
Doanh nghiệp bảo hiểm chi trả bảo hiểm và bồi thường thiệt hại khi có đủ các điều kiện được quy định tại Điều 21 của Nghị định này. Đó là:
“1. Thiệt hại thuộc phạm vi bảo hiểm quy định tại Điều 20 của Nghị định này.
2. Không thuộc các trường hợp sau đây:
a) Công chứng viên thực hiện công chứng trong trường hợp mục đích và nội dung của hợp đồng, giao dịch, nội dung bản dịch vi phạm pháp luật, trái đạo đức xã hội; xúi giục, tạo điều kiện cho người tham gia hợp đồng, giao dịch thực hiện giao dịch giả tạo hoặc hành vi gian dối khác;
b) Công chứng viên công chứng hợp đồng, giao dịch, bản dịch có liên quan đến tài sản, lợi ích của bản thân mình hoặc của những người thân thích là vợ hoặc chồng; cha mẹ đẻ, cha mẹ nuôi; cha mẹ đẻ, cha mẹ nuôi của vợ hoặc chồng; con đẻ, con nuôi, con dâu, con rể; ông, bà; anh chị em ruột, anh chị em ruột của vợ hoặc chồng; cháu là con của con đẻ, con nuôi;
c) Công chứng viên cấu kết, thông đồng với người yêu cầu công chứng và những người có liên quan làm sai lệch nội dung của văn bản công chứng, hồ sơ công chứng;
d) Trường hợp khác theo thỏa thuận giữa doanh nghiệp bảo hiểm và tổ chức hành nghề công chứng hoặc tổ chức xã hội - nghề nghiệp của công chứng viên trong trường hợp được tổ chức hành nghề công chứng ủy quyền”.
Tóm lại, Doanh nghiệp bảo hiểm chi trả bảo hiểm và bồi thường thiệt hại khi thiệt hại thuộc phạm vi bảo hiểm, ví dụ: Thiệt hại về vật chất của người tham gia ký kết hợp đồng, giao dịch hoặc của cá nhân, tổ chức khác có liên quan trực tiếp đến hợp đồng, giao dịch đã được công chứng mà những thiệt hại gây ra do lỗi của công chứng viên trong thời hạn bảo hiểm. Thêm nữa, thiệt hại xảy ra không thuộc các trường hợp loại trừ được nêu trên.
Ngọc Đức
Admin PBGDPL