Đặt tên cho con khi đăng ký khai sinh
Tôi kết hôn với một người nước ngoài. Anh ấy sinh sống và làm việc tại nước ngoài, định kỳ 2 tháng hoặc tiện công tác mới về Việt Nam thăm gia đình.
Tôi kết hôn với một người nước ngoài. Anh ấy sinh sống và làm việc tại nước ngoài, định kỳ 2 tháng hoặc tiện công tác mới về Việt Nam thăm gia đình.
Sắp tới đây, tôi sinh con. Xin hỏi, nếu vợ chồng tôi muốn đăng ký khai sinh cho cháu và đặt họ tên con bằng tiếng nước nước ngoài thì có được hay không? Vợ chồng tôi có nhất thiết phải cùng có mặt khi làm thủ tục này cho con hay không?
Trả lời:
Điều 14 Luật Hộ tịch năm 2014 quy định về đăng ký khai sinh như sau:
“1. Nội dung đăng ký khai sinh gồm:
a) Thông tin của người được đăng ký khai sinh: Họ, chữ đệm và tên; giới tính; ngày, tháng, năm sinh; nơi sinh; quê quán; dân tộc; quốc tịch;
b) Thông tin của cha, mẹ người được đăng ký khai sinh: Họ, chữ đệm và tên; năm sinh; dân tộc; quốc tịch; nơi cư trú;
c) Số định danh cá nhân của người được đăng ký khai sinh.
2. Việc xác định quốc tịch, dân tộc, họ của người được khai sinh được thực hiện theo quy định của pháp luật về quốc tịch Việt Nam và pháp luật dân sự.
3. Nội dung đăng ký khai sinh quy định tại khoản 1 Điều này là thông tin hộ tịch cơ bản của cá nhân, được ghi vào Sổ hộ tịch, Giấy khai sinh, cập nhật vào Cơ sở dữ liệu hộ tịch điện tử và Cơ sở dữ liệu quốc gia về dân cư. Hồ sơ, giấy tờ của cá nhân liên quan đến thông tin khai sinh phải phù hợp với nội dung đăng ký khai sinh của người đó.
Chính phủ quy định việc cấp số định danh cá nhân cho người được đăng ký khai sinh”.
Như vậy, khi đăng ký khai sinh cho con phải có thông tin về họ, chữ đệm và tên của của. Hướng dẫn cụ thể nội dung này, theo điểm a khoản 1 Điều 4 Nghị định số 123/2015/NĐ-CP ngày 15/11/2015 của Chính phủ, “Họ, chữ đệm, tên và dân tộc của trẻ em được xác định theo thỏa thuận của cha, mẹ theo quy định của pháp luật dân sự và được thể hiện trong Tờ khai đăng ký khai sinh; trường hợp cha, mẹ không có thỏa thuận hoặc không thỏa thuận được, thì xác định theo tập quán”.
Có nghĩa là, vợ chồng bạn có quyền thỏa thuận xác định họ tên, bao gồm họ và tên cho con, thể hiện trên Tờ khai đăng ký khai sinh. Họ của con có thể theo họ của mẹ hoặc họ của bố. Bởi vì, Điều 26 của Bộ luật Dân sự năm 2015 quy định:
“1. Cá nhân có quyền có họ, tên (bao gồm cả chữ đệm, nếu có). Họ, tên của một người được xác định theo họ, tên khai sinh của người đó.
2. Họ của cá nhân được xác định là họ của cha đẻ hoặc họ của mẹ đẻ theo thỏa thuận của cha mẹ; nếu không có thỏa thuận thì họ của con được xác định theo tập quán. Trường hợp chưa xác định được cha đẻ thì họ của con được xác định theo họ của mẹ đẻ.
Trường hợp trẻ em bị bỏ rơi, chưa xác định được cha đẻ, mẹ đẻ và được nhận làm con nuôi thì họ của trẻ em được xác định theo họ của cha nuôi hoặc họ của mẹ nuôi theo thỏa thuận của cha mẹ nuôi. Trường hợp chỉ có cha nuôi hoặc mẹ nuôi thì họ của trẻ em được xác định theo họ của người đó.
Trường hợp trẻ em bị bỏ rơi, chưa xác định được cha đẻ, mẹ đẻ và chưa được nhận làm con nuôi thì họ của trẻ em được xác định theo đề nghị của người đứng đầu cơ sở nuôi dưỡng trẻ em đó hoặc theo đề nghị của người có yêu cầu đăng ký khai sinh cho trẻ em, nếu trẻ em đang được người đó tạm thời nuôi dưỡng.
Cha đẻ, mẹ đẻ được quy định trong Bộ luật này là cha, mẹ được xác định dựa trên sự kiện sinh đẻ; người nhờ mang thai hộ với người được sinh ra từ việc mang thai hộ theo quy định của Luật hôn nhân và gia đình.
3. Việc đặt tên bị hạn chế trong trường hợp xâm phạm đến quyền, lợi ích hợp pháp của người khác hoặc trái với các nguyên tắc cơ bản của pháp luật dân sự quy định tại Điều 3 của Bộ luật này.
Tên của công dân Việt Nam phải bằng tiếng Việt hoặc tiếng dân tộc khác của Việt Nam; không đặt tên bằng số, bằng một ký tự mà không phải là chữ.
4. Cá nhân xác lập, thực hiện quyền, nghĩa vụ dân sự theo họ, tên của mình.
5. Việc sử dụng bí danh, bút danh không được gây thiệt hại đến quyền, lợi ích hợp pháp của người khác”.
Điều đó đồng nghĩa, nếu đăng ký khai sinh cho con ở Việt Nam với tư cách cháu là công dân của Việt Nam, họ của cháu có thể theo họ của bố. Song, tên của cháu phải bằng tiếng Việt hoặc tiếng dân tộc khác của Việt Nam, không được đặt bằng tiếng nước ngoài.
Điều 15 Luật Hộ tịch năm 2014 quy định về trách nhiệm đăng ký khai sinh như sau:
“1. Trong thời hạn 60 ngày kể từ ngày sinh con, cha hoặc mẹ có trách nhiệm đăng ký khai sinh cho con; trường hợp cha, mẹ không thể đăng ký khai sinh cho con thì ông hoặc bà hoặc người thân thích khác hoặc cá nhân, tổ chức đang nuôi dưỡng trẻ em có trách nhiệm đăng ký khai sinh cho trẻ em.
2. Công chức tư pháp - hộ tịch thường xuyên kiểm tra, đôn đốc việc đăng ký khai sinh cho trẻ em trên địa bàn trong thời hạn quy định; trường hợp cần thiết thì thực hiện đăng ký khai sinh lưu động”.
Cho nên, trong thời hạn 60 ngày kể từ ngày sinh con, vợ chồng bạn có nghĩa vụ đăng ký khai sinh cho cháu. Vợ chồng bạn hoặc một trong hai người thực hiện thủ tục này. Vì vậy, bạn không cần chờ đến khi bố cháu sang Việt Nam để đăng ký khai sinh cho con.
Hùng Phi
Vũ Thị Thanh Tú