Đã cấp giấy xác nhận tình trạng hôn nhân để kết hôn với một người nay muốn đăng ký kết hôn với người khác có được không?
Tháng 2 năm 2014, tôi đến UBND xã xin cấp Giấy xác nhận tình trạng hôn nhân để làm thủ tục đăng ký kết hôn với cô T thường trú tại địa phương khác. Tuy nhiên chúng tôi không đăng ký kết hôn mà hai...
Tháng 2 năm 2014, tôi đến UBND xã xin cấp Giấy xác nhận tình trạng hôn nhân để làm thủ tục đăng ký kết hôn với cô T thường trú tại địa phương khác. Tuy nhiên chúng tôi không đăng ký kết hôn mà hai gia đình tổ chức lễ cưới cho chúng tôi và sau hơn 2 năm chung sống, chúng tôi đã chia tay. Nay, tôi muốn kết hôn với cô X thì có được không? Tôi có thể xin cấp lại Giấy xác nhận tình trạng hôn nhân không và trong trường hợp này thì thủ tục như thế nào?
Trả lời:
Để được đăng ký kết hôn, nam, nữ phải tuân theo các điều kiện quy định tại Điều 8 Luật Hôn nhân và gia đình 2014 như sau:
- Nam từ đủ 20 tuổi trở lên, nữ từ đủ 18 tuổi trở lên;
- Việc kết hôn do nam và nữ tự nguyện quyết định;
- Không bị mất năng lực hành vi dân sự;
- Việc kết hôn không thuộc một trong các trường hợp cấm kết hôn theo quy định tại các điểm a, b, c và d khoản 2 Điều 5 của Luật này. (trong đó có điều cấm: Người đang có vợ, có chồng mà kết hôn hoặc chung sống như vợ chồng với người khác hoặc chưa có vợ, chưa có chồng mà kết hôn hoặc chung sống như vợ chồng với người đang có chồng, có vợ).
Theo quy định nêu trên, để được đăng ký kết hôn với cô X, bạn phải thỏa mãn điều kiện: tại thời điểm đó, bạn không có đăng ký kết hôn với ai (chưa kết hôn; hoặc đã kết hôn nhưng đã ly hôn; hoặc đã kết hôn nhưng vợ/chồng đã chết). Theo thông tin bạn cung cấp, mặc dù bạn đã xin cấp Giấy xác nhận tình trạng hôn nhân và có thời gian hơn 2 năm chung sống với cô T nhưng bạn chưa đăng ký kết hôn với cô T nên hiện tại bạn có đủ điều kiện đăng ký kết hôn với cô X theo quy định của pháp luật.
Tại khoản 1 Điều 10 Nghị định số 123/2015/NĐ-CP ngày 15 tháng 11 năm 2015 của Chính phủ quy định chi tiết một số điều và biện pháp thi hành Luật hộ tịch quy định: “Trường hợp đăng ký kết hôn tại Ủy ban nhân dân cấp xã mà người yêu cầu đăng ký kết hôn không thường trú tại xã, phường, thị trấn nơi đăng ký kết hôn thì phải nộp Giấy xác nhận tình trạng hôn nhân do Ủy ban nhân dân cấp xã có thẩm quyền cấp theo quy định tại các Điều 21, 22 và 23 của Nghị định này.” Mặt khác, tại Khoản 6 Điều 22 Nghị định số 123/2015/NĐ-CP quy định: “Trường hợp cá nhân yêu cầu cấp lại Giấy xác nhận tình trạng hôn nhân để sử dụng vào mục đích khác hoặc do Giấy xác nhận tình trạng hôn nhân đã hết thời hạn sử dụng theo quy định tại Điều 23 của Nghị định này, thì phải nộp lại Giấy xác nhận tình trạng hôn nhân đã được cấp trước đó.”. Như vậy, do Giấy xác nhận tình trạng hôn nhân của bạn đã hết hạn sử dụng (quá 6 tháng) nên bạn có thể đến UBND cấp xã nơi bạn cư trú để xin cấp lại Giấy xác nhận tình trạng hôn nhân.
Về thủ tục cấp Giấy xác nhận tình trạng hôn nhân được quy định tại Điều 22 Nghị định số 123/2015/NĐ-CP, theo đó bạn phải nộp Tờ khai theo mẫu quy định, Giấy xác nhận tình trạng hôn nhân được cấp năm 2014 đã hết hạn sử dụng và xuất trình Giấy Chứng minh nhân dân hoặc Thẻ căn cước công dân hoặc hộ chiếu, sổ hộ khẩu. Trong thời hạn 03 ngày làm việc, kể từ ngày nhận đủ hồ sơ hợp lệ, công chức tư pháp - hộ tịch kiểm tra, xác minh tình trạng hôn nhân của người có yêu cầu. Nếu người yêu cầu có đủ điều kiện, việc cấp Giấy xác nhận tình trạng hôn nhân là phù hợp quy định pháp luật thì công chức tư pháp - hộ tịch trình Chủ tịch Ủy ban nhân dân ký cấp 01 bản Giấy xác nhận tình trạng hôn nhân cho người có yêu cầu. Nội dung Giấy xác nhận tình trạng hôn nhân phải ghi đúng tình trạng hôn nhân của người có yêu cầu và mục đích sử dụng Giấy xác nhận tình trạng hôn nhân. Trường hợp người yêu cầu xác nhận tình trạng hôn nhân đã từng đăng ký thường trú tại nhiều nơi khác nhau, người đó có trách nhiệm chứng minh về tình trạng hôn nhân của mình. Trường hợp người đó không chứng minh được thì công chức tư pháp - hộ tịch báo cáo Chủ tịch Ủy ban nhân dân cấp xã có văn bản đề nghị Ủy ban nhân dân cấp xã nơi người đó đã từng đăng ký thường trú tiến hành kiểm tra, xác minh về tình trạng hôn nhân của người đó. Trong thời hạn 03 ngày làm việc, kể từ ngày nhận được văn bản đề nghị, Ủy ban nhân dân cấp xã được yêu cầu tiến hành kiểm tra, xác minh và trả lời bằng văn bản cho Ủy ban nhân dân cấp xã yêu cầu về tình trạng hôn nhân của người đó trong thời gian thường trú tại địa phương. Ngay trong ngày nhận được văn bản trả lời, nếu thấy đủ cơ sở, Ủy ban nhân dân cấp xã cấp Giấy xác nhận tình trạng hôn nhân cho người yêu cầu.
Admin PBGDPL